Home / Danh Sách Tổng Hợp / Top 10 Làng nghề truyền thống lâu đời nhất miền Bắc Việt Nam

Top 10 Làng nghề truyền thống lâu đời nhất miền Bắc Việt Nam

Ở đâu đó ta tìm về cho mình một khoảng rất riêng, rất yên bình, ta đi tìm những nét đẹp hoài cổ, lắng đọng trong không gian của những làng nghề truyền thống lâu đời nhất, được gìn giữ và phát triển đến ngày nay. Dưới đây là một số làng nghề truyền thống lâu đời nhất phía Bắc nước ta, hãy một lần đến trải nghiệm những địa điểm này để tìm lại những dư vị xa xưa thoát khỏi cuộc sống đầy ồn ào, náo nhiệt.

Làng tranh Đông Hồ – Bắc Ninh

          <strong>Làng tranh Đông Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh) </strong>nằm bên bờ sông Đuống êm đềm, từ lâu đã nổi tiếng với nghề làm tranh dân gian, mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống, và là dòng tranh được biết đến nhiều nhất ở Việt Nam.&nbsp;<strong>Làng Đông Hồ</strong> nổi tiếng với&nbsp;dòng tranh khắc gỗ dân gian đặc sắc được nhiều người cả trong và ngoài nước biết đến, với những bức tranh từ lâu đã đi vào đời sống tinh thần bao người dân Việt.&nbsp;

Nét dân gian của tranh Đông Hồ còn nằm ở màu sắc và chất liệu giấy in. Giấy được làm từ vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, trộn với hồ (hồ được nấu từ bột gạo tẻ, hoặc gạo nếp, có khi nấu bằng bột sắn – hồ dùng để quét nền tranh thường được nấu loãng từ bột gạo tẻ hoặc bột sắn, hồ nấu từ bột nếp thường dùng để dán) rồi dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó, công đoạn khá là công phu, tỉ mỉ đòi hỏi sự khéo tay của người thợ lành nghề. Rồi đến công đoạn chuẩn bị màu sắc, sao cho tranh thật tự nhiên phải là những gam màu cơ bản, không pha trộn thường được chế từ than của lá tre, xanh của lá chàm, vàng của hoa hòe, đỏ của gỗ vang, chỉ 4 gam màu không pha trộn và vì số lượng màu tương ứng với số bản khắc gỗ. Tranh Đông Hồ tinh xảo tạo nên nét tinh hoa văn hóa dân gian Việt, không chỉ khách trong nước yêu thích và tìm mua, tranh làng Hồ còn được du khách nước ngoài mua rất nhiều mỗi khi đặt chân đến mảnh đất kinh kỳ này.

Thăm làng tranh Đông Hồ ngày nay, du khách có thể tham quan cơ sở của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và Nguyễn Hữu Sam cùng con cháu. Đây là hai gia đình kỳ cựu nhất ở làng tranh, họ vẫn giữ được nghề cổ truyền cùng hàng trăm bản khắc cổ quý giá, trở thành địa chỉ văn hóa hấp dẫn của du lịch Bắc Ninh. Trong các gian nhà xây theo kiến trúc xưa, được treo đầy tranh dân gian với nhiều thể loại khác nhau, từ sinh hoạt đời thường tới tranh lịch sử, phong cảnh… ngập tràn màu sắc tươi trong. Tại đây, du khách còn được nghe giới thiệu về những giá trị văn hóa đặc sắc của nghề làm tranh dân gian Đông Hồ, và có thể trải nghiệm tự tay in tranh, cũng như mua sắm những bức tranh ưng ý.

Làng miến Cự Đà

          <p>Cách trung tâm Thủ đô khoảng 20km, làng Cự Đà, Thanh Oai, Hà Nội không chỉ được biết là một không gian văn hóa độc đáo, nơi vẫn còn lưu giữ được nhiều ngôi nhà cổ vẹn nguyên lối kiến trúc Việt ở vùng Đồng bằng Bắc bộ, mà còn được biết đến là một làng nghề sản xuất miến lớn nhất tại miền Bắc.&nbsp;<strong>Làng Cự Đà</strong> nổi tiếng với nghề làm miến và nghề làm tương truyền thống. Có gần 400 hộ dân đang sống nhờ vào hai nghề này.<br><br>Theo nhiều bậc cao niên ở Cự Đà, nghề làm miến từ dong riềng (hay còn gọi là củ đót) ở <strong>Cự Đà </strong>đã có từ "dăm bảy chục năm" trở lại đây. <strong>Sợi miến Cự Đà</strong> có đặc điểm rất dễ nhận là thường có màu vàng óng hoặc trắng mịn; khi nấu lên có vị thơm ngon, giòn và dai rất vừa miệng. Đặc biệt, sợi miến không bị nở trương hay nát vỡ khi người nội trợ nào "lỡ tay" nấu hơi lâu trên bếp.

Muốn có được sợi miến nhỏ, đều, nhìn là biết được “ra lò” từ Cự Đà chứ không phải từ vùng nào khác, người Cự Đà chọn loại củ dong riềng ngon, đem xay thành bột. Bột dong sau đó được ngâm với nước và lọc để chọn lấy phần tinh bột, rồi được đánh lên. Một phần bột được ngâm với nước sôi gọi là bột chín. Bột chín mang hòa với bột đã lọc, với tỷ lệ 1/10 tạo nên hỗn hợp. Tiếp đó, bột được tráng thành bánh, hấp chín và đem phơi nắng. Sau khi khô, bánh được đưa qua máy cán thành từng sợi miến nhỏ, dài và tiếp tục đem phơi cho thật khô. Bác Trịnh Thị Hồng – một người đã hàng chục năm gắn bó với nghề làm miến ở Cự Đà cho biết, để có sợi miến ngon, ở mỗi công đoạn người làm miến phải hết sức cẩn thận và tỉ mỉ. Ngay như ở khâu phơi bánh trước khi cắt thành từng sợi miến cũng đòi hỏi người phơi phải thật khéo để trải cho tấm bánh miến được căng rộng, đều trên tấm phên rộng, bởi như vậy thì tấm bánh miến mới khô đều và dễ cắt thành từng sợi miến nhỏ. Khi đã khô đến một mức độ nhất định, bánh miến sẽ được máy cắt nhỏ thành từng sợi dài, nhỏ rồi lại được đem phơi tiếp ngoài nắng.Túc tắc làm miến quanh năm, bên cạnh việc sản xuất nông nghiệp và làm tương nhưng cứ vào những tháng cuối năm, cả làng Cự Đà lại sôi động hẳn lên bởi nhà nhà làm miến, người người đến mua miến.

Tìm về với Cự Đà vào những ngày nắng đẹp, không chỉ có những thương lái đến cất hàng mà còn có cả những nghệ sỹ nhiếp ảnh, khách du lịch… Họ tìm đến Cự Đà để lưu lại những khoảnh khắc đẹp tuyệt vời của những bức mành được làm bằng sợi miến óng vàng đang dệt nên nắng mới buông trải trên những dây phơi, giá đỡ bên tường, trong sân những ngôi nhà cổ có tuổi đời cả trăm năm.

Nghề nấu rượu làng Vân – Bắc Giang

          <p><strong>Rượu làng Vân</strong> ủ từ nếp cái hoa vàng từ xưa đã nổi tiếng với danh xưng “mỹ tửu” nổi danh nhất xứ Kinh Bắc, là loại rượu tiến cống cho vua nên còn được gọi là vương tửu. Mặc dù người nấu rượu làng Vân cũng chưng cất nhiều loại rượu từ các loại gạo, sắn hay các loại nguyên liệu khác nha. Nhưng loại rượu được ủ và chưng cất từ nếp cái hoa vàng mới chính là thương phẩm có giá trị cao nhất.

Nghề nấu rượu tại làng Vân đã có lịch sử hàng trăm năm với bí phương gia truyền được truyền thừa từ đời này sang đời kia. Dù ngày nay không còn nấu rượu để tiến cống, nhưng với mỹ danh lan xa, thương hiệu rượu làng Vân Bắc Giang khi nhắc đến cũng đủ làm cho những người yêu rượu cảm thấy ngất ngây.

Để có thể tạo ra loại rượu làng Vân từ nếp cái hoa vàng, tất cả những công đoạn từ việc chọn gạo nếp, chọn men, ủ rượu, chưng cất… đều được thực hiện một cách tỉ mỉ. Bí quyết nấu rượu này chính là từ loại men độc đáo chỉ ở làng Vân mới có. Mặc dù sẽ khá tốn thời gian, nhưng các bước làm rượu làng Vân sẽ đem đến cho những ai yêu thích loại vương tửu này cảm nhận được sâu sắc cảm giác rất là “vua chúa” khi được thưởng thức loại rượu này.

Trong cơ chế thị trường hiện nay, sự cạnh tranh trở nên khốc liệt. Thế nhưng, với thương hiệu nổi tiếng và được khẳng định bằng chất lượng, rượu Vân Bắc Giang vẫn có chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong và ngoài nước. Rượu làm ra đến đâu, tiêu thụ hết đến đó. Khắp mọi miền đất nước, trong các nhà hàng, khách sạn lớn nhỏ, quán bình dân… đâu đâu cũng có sự xuất hiện của loại rượu mang nhãn mác Rượu Vân Bắc Giang.

Làng nghề thêu ren Văn Lâm – Ninh Bình

          <p><strong>Làng Văn Lâm </strong>xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình được cho là nơi phát tích, hội tụ đầy đủ nhất những tinh hoa của nghề thêu ren với những bàn tay vàng đã được Hiệp hội làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam công nhận. Trải qua hàng thế kỷ người dân nơi đây vẫn lưu giữ nghề truyền thống và phát triển bằng những sản phẩm thêu tay độc đáo có độ tinh xảo cao phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Là làng nghề nằm trong vùng Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới Tràng An, ngay tại Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động, Văn Lâm có nhiều điều kiện thuận lợi để đưa nét văn hóa làng nghề cũng như những sản phẩm truyền thống đến gần hơn với du khách và bạn bè quốc tế. Ngày nay, thôn Văn Lâm có khoảng gần 3.000 lao động làm nghề thêu và du lịch tại địa phương. Thôn có 16 nghệ nhân tiêu biểu đã được UBND tỉnh phong tặng nghệ nhân cấp tỉnh. Trên địa bàn thôn có 6 doanh nghiệp và nhiều cơ sở sản xuất hàng thêu ren truyền thống, giải quyết việc làm cho nhiều lao động của xã và các địa phương lân cận. Các doanh nghiệp không chỉ mở xưởng sản xuất tại địa phương mà còn thông qua các hình thức hợp tác như gia công, tổ chức nhiều điểm sản xuất ở các địa phương trong và ngoài huyện. Hướng đi này không chỉ nhằm bảo đảm tiến độ, thời gian, số lượng hàng cho khách mà còn giải quyết việc làm cho nhân dân các địa phương trong thời điểm nông nhàn.

Trước đây, người dân làng Văn Lâm chuyên thêu các sản phẩm phục vụ nghi thức, nghi lễ trong đời sống văn hóa tâm linh, đặc biệt là trong lễ hội: quần, áo, mũ của đội tế; tàn, lọng, y môn trong các ngôi đình, đền đều có sự đóng góp, sáng tạo của người thợ thêu làng Văn Lâm. Trải qua những thăng trầm của thời gian, người dân Văn Lâm vẫn quyết tâm gắn bó với nghề, đã có những bước đột phá mới trong mẫu mã, sản phẩm của mình. Từ chỗ chỉ thêu các đồ thờ trong các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, các nghệ nhân Văn Lâm đã đổi mới, sáng tạo thêm các loại hình sản phẩm mới: thêu những loại khăn trải bàn, khăn ăn phục vụ đa dạng hơn nhu cầu sử dụng hằng ngày của các tầng lớp trong xã hội. 

Ngày nay, làng nghề thêu ren Văn Lâm chuyên sản xuất các loại vật dụng trang trí nội thất, phục vụ đời sống sinh hoạt: rèm, khăn trải bàn, khăn ăn, vỏ chăn ga, gối, quần áo thời trang. Nhiều gia đình thêu ở Văn Lâm đã sáng tạo ra những loại hình sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu của khách hàng như các loại tranh thêu: tùng, cúc, trúc, mai, tranh sơn thủy hữu tình, tranh mừng thọ hay các loại tranh con vật. Hiện nay sản phẩm thêu ren của Văn Lâm đã có mặt ở cả trong, ngoài nước. Trong nhiều năm, số lượng hàng xuất khẩu sang các nước này có tỷ lệ lớn hơn so với mặt hàng tiêu thụ trong nước. 

Làng nghề cói Kim Sơn – Ninh Bình

          <p><strong>Làng nghề dệt cói Kim Sơn (huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình)</strong> là vùng đất nổi tiếng với nghề trồng cói, làm đồ cói đã có từ lâu đời. <strong>Nghề dệt cói Kim Sơn </strong>gắn liền với thiên nhiên, bởi nguyên liệu để làm nên những sản phẩm từ cói cũng giản dị như thiên nhiên ở vùng đất này. Đối với những người trồng cói, cây cói gắn bó với nghề, với người thợ suốt cả cuộc đời cần lao. Thế mạnh của nghề trồng cói và dệt cói ở Kim Sơn là sản xuất ra những sản phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ nhân dân. Do vậy, nghề này tuy cực nhọc nhưng không hề mai một.

Công đoạn đan cói đòi hỏi sự khéo tay của người thợ. Để có được một sản phẩm cói mỹ nghệ đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, kỹ thuật trồng và sản xuất cói của Kim Sơn cũng khá đặc biệt. Đó là cả một quy trình công phu, tỉ mỉ và chính xác ngay từ lúc trồng cói, thu hoạch cói, chọn cói, chẻ cói, phơi cói, nhuộm cói… cho đến khâu cuối cùng là đan, dệt cói và hoàn thiện sản phẩm.

Công nhân đang rửa sạch sản phẩm .Cói chiêm thu hoạch vào dịp tháng 5, cói mùa vào dịp tháng 10 (âm lịch). Quy trình trồng cói cũng giống như cây lúa: cày, xới, phơi ải, tháo nước, cấy cói, rồi làm cỏ, sục bùn, bón phân. Chất lượng cói trồng phụ thuộc đáng kể vào việc điều phối nước mặn và nước ngọt theo tỷ lệ thích hợp, hài hòa. Cói tươi thu hoạch về được chẻ nhỏ, phơi khô và đem ra chợ bán, rồi từ đó dệt thành chiếu hoa và các sản phẩm từ cói.

Sản phẩm chưa hoàn thiện được đem phơi khô để tránh ẩm mốc.Người dân Kim Sơn có đặc thù sống trong cái nôi làng nghề cói từ cách đây hàng trăm năm nên có đầy đủ tố chất của một người thợ thủ công chân chính, một bàn tay khéo léo, sự nhạy bén, tính linh hoạt cao và đam mê nghề nghiệp. Những tố chất này giúp cho họ đáp ứng được những đòi hỏi dù là khắt khe của nghề, tạo dựng nên nghề trồng cói, chế biến cói nổi tiếng xa gần và được người tiêu dùng trong và ngoài nước rất ưa chuộng.

Sản phẩm được kiểm tra, hoàn thiện lần cuối trước khi xuất xưởng.Tính đến nay, sản phẩm cói mỹ nghệ của Kim Sơn đã có mặt ở hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới… Tin rằng với bản lĩnh và tình yêu vô cùng lớn đối với nghề qua thăng trầm hàng trăm năm, bà con nơi đây vẫn son sắt một niềm tin tiếp tục đưa nghề truyền thống này ngày một phát triển lớn mạnh và tiến xa hơn nữa.

Làng lụa Vạn Phúc Hà Đông

          <p><strong>Làng lụa Hà Đông&nbsp;</strong>hay chính là&nbsp;<strong>Làng&nbsp;lụa vạn phúc hà Đông</strong>, nay thuộc phường Vạn Phúc, thuộc&nbsp;quận Hà Đông, cách trung tâm&nbsp;Hà Nội&nbsp;khoảng 10km. Đây là một làng nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng từ xa xưa, có nhiều mẫu hoa văn và lâu đời bậc nhất Việt Nam. Lụa Vạn Phúc từng được chọn may quốc phục dưới các đời vua&nbsp;nhà Nguyễn.

Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn còn giữ được ít nhiều nét cổ kính quê ngày xưa như hình ảnh chiếc giếng làng với những bông hoa sen, cạnh cây đa cổ thụ, buổi chiều vẫn họp chợ trước đình. Làng lụa Vạn Phúc từ lâu đã rất nổi tiếng với nghề dệt lụa truyền thống. “Lụa Hà Đông” cũng như các sản phẩm thủ công truyền thống của các làng nghề Hà Nội, thường được nhắc đến trong thơ ca xưa. Trong nhiều gia đình, khung dệt cổ vẫn được giữ lại, xen lẫn với các khung dệt cơ khí hiện đại.

Theo truyền thuyết, cách đây khoảng 1200 năm, bà A Lã Thị Nương, một người con gái ở Cao Bằng nổi tiếng đảm đang và có tay nghề dệt lụa khéo léo về làm dâu làng Vạn Phúc. Bà đã truyền nghề lại cho dân làng và sau khi mất, bà được phong làm thành hoàng làng.

Lụa Vạn Phúc được giới thiệu lần đầu ra quốc tế tại các hội chợ Marseille (1931) và Paris (1938), được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo của vùng Đông Dương thuộc Pháp, rất được ưa chuộng tại các nước Pháp, Thái Lan, Indonesia… Từ 1958 đến 1988, sản phẩm lụa Vạn Phúc hầu hết được xuất sang các nước Đông Âu; từ 1990 xuất khẩu ra nhiều quốc gia trên thế giới, thu ngoại tệ về cho đất nước.

Vạn Phúc hiện có 785 hộ dân làm nghề dệt, chiếm gần 60% trên tổng số hộ sinh sống tại làng nghề. Hàng năm, Vạn Phúc sản xuất từ 2,5 đến 3 triệu m2 vải, chiếm 63% doanh thu của toàn bộ làng nghề (khoảng 27 tỷ đồng). Hiện nay, Vạn Phúc có trên 1.000 máy dệt và hàng ngày có khoảng 400 lao động thời vụ từ quanh vùng đến đây làm việc. Cửa hàng bán lụa tơ tằm mọc lên ngày càng nhiều, hình thành ba dãy phố lụa với trên 100 cửa hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách.

Làng gốm Gia Thủy – Ninh Bình

          <p><strong>Làng gốm Gia Thủy</strong>, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình có tuổi đời khoảng 50 năm. Nghề truyền thống này phát triển tại địa phương bởi những người thợ gốm có gốc gác Thanh Hóa. Sở dĩ <strong>Gia Thủy</strong> được chọn để phát triển nghề gốm bởi có chất đất sét đặc trưng, phù hợp với nghề gốm.&nbsp;Trải qua nhiều năm thăng trầm, đến nay n<strong>ghề gốm Gia Thủy</strong> vẫn đứng vững và ngày càng phát triển mạnh. Sản phẩm được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đi nước ngoài. Để làm ra được một sản phẩm gốm phải trải qua rất nhiều công đoạn.

Mỗi công đoạn làm gốm yêu cầu người thợ cần có sự tỉ mỉ, cẩn thận tránh sai sót. Đất sét khi lọc qua nước sẽ được loại bỏ tạp chất, cô đặc rồi đem phơi đủ độ ẩm. Công đoạn phơi đất cần cần thận bởi đất phơi khô quá cũng không làm được gốm mà ướt quá cũng khó làm gốm. Vì thế khi phơi người thợ phải thường xuyên quan sát độ khô ướt của đất. Đất sau khi phơi sẽ được đem vào xưởng sản xuất làm nhuyễn thêm để tạo độ keo và mịn hơn khi nặn. Đất sét làm gốm ở Gia Thủy có màu vàng nên rất tốt khi làm gốm, khi sản phẩm ra lò cũng có độ bền, óng đẹp rất cao. Tùy thuộc vào từng loại sản phẩm mà người thợ sẽ nặn đất theo mẫu khác nhau. Thông thường để làm ra những chiếc vò, chum, vại người thợ sẽ nặn đất thành những thớ dài và tròn để khi đưa lên bàn xoay ghép lại với nhau được dễ dàng hơn.

Những năm trở lại đây, nhu cầu mua bình, vò, chum sành để ngâm rượu tăng cao vì rượu khi ngâm vào bình gốm sành sẽ khử được chất độc, làm giảm nồng độ rượu, an toàn cho người sử dụng. Vì thế, nghề gốm Gia Thủy sản xuất nhộn nhịp hơn trước kia. Các cơ sở sản xuất làm quanh năm cũng không đủ hàng cung ứng ra thị trường.

Theo nghệ nhân Nguyễn Thị Mai, từng công đoạn làm gốm, người thợ gửi hồn mình vào những cục đất vô tri vô giác để tạo nên một sản phẩm gốm hoàn chỉnh và có hồn. Từ những sản phẩm làm vật dụng bình thường hay những sản phẩm mỹ nghệ thì người thợ cần phải có lòng đam mê và tâm huyết với nghề.

Làng dát vàng Kiêu Kỵ Gia Lâm – Hà Nội

          <p><strong>Kiêu Kỵ</strong> là làng nằm trong vùng châu thổ sông Hồng. Xưa kia, người dân Kiêu Kỵ cũng làm nghề trồng lúa nước và nghề phụ là nghề dát bạc quỳ vào những lúc nông nhàn. Ngày nay, do nhu cầu phát triển của xã hội, nghề dát vàng bạc quỳ đa trở thành nghề chính và mang lại thu nhập chủ yếu cho phần lớn hộ dân trong làng.

Theo sử sách ghi lại thì nghề dát vàng quỳ có từ 300 năm trước dưới thời Hậu Lê. Thuở ấy, có ông Nguyễn Quý Trị, người làng Hội Xuyên – Liễu Trai – Hải Dương học rộng, tài cao được cử đi xứ bên Trung Quốc. Khi sang đó, ông học được nghề dát vàng bạc để sơn son thiếp vàng các đồ thờ cúng và hoành phi câu đối sau mang về truyền dạy cho dân làng Kiêu Kỵ. Sau này, ông được tôn xưng làm Tổ sư nghề và chọn ngày mất của ông là giày giỗ tổ.

Làng nghề dát vàng, dát bạc quỳ Kiêu Kỵ từ khi ra đời đã trải qua bao biến cố, thăng trầm trong cuộc sống. Đã có những lúc, nghề bị mai một tưởng có thể mất đi khi đó trong làng chỉ có 3 – 5 hộ làm nghề. Đến nay, nhà nước phát triển, có chính sách trùng tu lại những công trình văn hóa, di tích lịch sử do vậy nghề truyền thống ở Kiêu Kỵ được khôi phục và phát triển cho đến ngày nay. Với những nỗ lực lớn của mình, người nghệ nhân, người thợ quỳ lão làng ở Kiêu Kỵ đã nỗ lực vực dậy sức sống tiềm ẩn của một làng nghề vài trăm năm tuổi.

Trong những năm gần đây, nghề làm quỳ vàng bạc của làng Kiêu kỵ đã phát triển thành hai loại: Làm quỳ vàng, quỳ bạc cựu và làm quỳ vàng, quỳ bạc tân. Trong đó quỳ vàng bạc cựu làm từ bạc thật còn quỳ vàng bạc tân được làm từ thiếc. Làm vàng quỳ khó hơn nhiều công đoạn hơn bạc quỳ nên không phải hộ gia đình nào cũng làm được. Hiện sản xuất kinh doanh vàng quỳ chỉ còn vài hộ gia đình còn giữ được trong khi đó bạc quỳ thì có cả trăm hộ. Hầu hết những người làm bạc quỳ là những nghệ nhân Lê Bá Trung, Lê Văn Vòng truyền dạy.

Đặc biệt để lưu trữ và phát triển nghề, hai nghệ nhân vẫn tổ chức lớp dạy nghề cho thanh niên trong làng và dạy các lớp do Sở Công thương và Trung tâm Khuyến nông Hà Nội tổ chức. Nhờ đó, nghề truyền thống của làng Kiêu Kỵ được truyền cho tới ngày nay.

Làng hoa Hạ Lũng – Hải Phòng

          <p><strong>Làng hoa Hạ Lũng Hải Phòng</strong> cách trung tâm thành phố Hải Phòng chừng 6 km có một làng hoa mang tên Hạ Lũng. Vườn hoa thuộc ở phường Đằng Hải, quận Hải An. Dường như ở đây có thể xem là làng hoa nổi tiếng và có truyền thống bậc nhất ở Hải Phòng mà không có một làng hoa thứ hai nào hơn được.&nbsp;Nhắc đến cái tên <strong>Hạ Lũng</strong> là người dân Hải Phòng ai ai cũng biết ở đó chính là nơi ngàn hoa đua nhau sắc thắm. Những ruộng hoa rộng và dài tít tắm như được những người dân có kinh nghiệm lâu năm trong nghề trồng hoa chăm sóc kỹ lưỡng.

Ngay từ những năm 1960 – 1970, thì người dân ở đây đã trồng hoa để tô điểm cho đất trời. Khi ấy các loài hoa được trồng phổ biến đó chính là hoa cúc, cúc vạn thọ, thược dược, lay ơn,…đều là những loài hoa có sức sống mãnh liệt, ngoài ra hoa cúc họa mi như thể hiện được sự thanh khiết của mình trong vô vàng các màu hoa sắc thắm kia.

Hiện nay thì do chính quá trình đô thị hoa diễn ra nhanh chóng thì cũng ảnh hưởng ít nhiều đến việc trồng hoa của làng hoa này. Diện tích trồng hoa của Hạ Lũng bị thu hẹp và chia nhỏ dần đi theo các thời kỳ.  Và cho đến nay, làng có khoảng 30% hộ trồng hoa trên tổng diện tích 30ha. Tuy diện tích bị thu hẹp nhưng những vườn hoa vẫn được chăm sóc kỹ lưỡng, những bông hoa tươi sắc như cứ vươn mình ra đón ánh nắng mặt trời và phả vào trong làn gió hương thơm dịu nhẹ.

Nếu như có dịp về đất Cảng thăm thú biển, rừng, ăn những món ăn vặt nổi tiếng như bánh đa cua, sủi dìn Hải Phòng,…thì hãy ghé về Hạ Lũng những ngày giáp Tết, bạn vừa được thư thả ngắm hoa, vừa có được những bức hình tuyệt đẹp đó!

Làng nghề hương trầm Cao Thôn – Hưng Yên

          <p>Nằm cách Hà Nội chừng 40 km,&nbsp;<strong>làng hương Cao Thôn&nbsp;</strong>thuộc xã Bảo Khê, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, là một trong những làng nghề làm hương lớn nhất cả nước.<strong><br><br>Làng Cao Thôn&nbsp;</strong>hay còn được biết đến với tên gốc là Thôn Cao, nằm sát đê tả sông Hồng với cảnh sắc thanh bình. Nơi đây được xem là cái nôi của nghề làm hương truyền thống lâu đời ở Việt Nam. Theo các bậc cao niên, nghề làm hương do bà Đào Thị Khương, người Cao Thôn, truyền dạy lại cho người dân trong làng. Bà được tôn là tổ nghề hương của vùng và hiện được thờ tại nhà thờ tổ họ Đào, <strong>làng Cao Thôn</strong>. Ông Nguyễn Như Khanh, Phó Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Cao Thôn, cho biết: "Theo như các cụ kể lại nghề làm hương của thôn có từ cuối Thế kỷ 18, đến nay cũng phải gần 300 năm. Từ ngày ấy đến giờ cứ đời nọ truyền đời kia làm nghề này. Ngày giỗ cụ Tổ nghề là ngày 22/08 âm lịch. Ngày này là ngày mất của cụ nên hàng năm cả làng tại tập trung về nhà thờ để thắp hương tưởng nhớ đến người đã mang lại nghề cho quê hương, mang lại công ăn việc làm cho bao thế hệ."<strong><br><br>Nghề làm hương ở Cao Thôn</strong>&nbsp;hoạt động suốt quanh năm ngày tháng, giải quyết việc làm cho 600 lao động trong thôn và một số vùng xung quanh. Nghề làm hương không kén nhân lực, nên tận thu được tất cả sức lao động nhàn rỗi, ai cũng có thể tham gia sản xuất được. Sản lượng hương xạ của cả làng đạt xấp xỉ 10 triệu nén/năm.<br><br>Là làng nghề truyền thống lâu đời, bởi vậy, những năm gần đây, <strong>Thôn Cao</strong> còn là một trong địa chỉ đỏ trong hành trình du lịch tỉnh Hưng Yên của du khách gần xa. Tại đây, mọi người sẽ được trải nghiệm nhiều hoạt động hấp dẫn. Ông Nguyễn Như Khanh cho biết: "Mới đây có đoàn khách Anh về đây tham quan, tôi trực tiếp dẫn đoàn đi giới thiệu trong vòng vài tiếng và tham quan một số hộ. Họ được xem quá trình sản xuất, được tự làm, tự thắp nên rất thích. Ngoài ra, làng có quần thể đẹp, đường ngõ sạch đẹp, đình chùa giữ lại được cảnh quang thời xưa vẫn còn nguyên nên các đoàn rất thích. Tới đây sẽ có thêm nhiều đoàn tham quan của nước ngoài về làng."

About