Top 6 Bài soạn “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” của Phan Bội Châu – lớp 8 hay nhất

Phan Bội Châu là một nhà yêu nước, cách mạng lớn nhất của dân tộc ta trong vòng 20 năm đầu thế kỉ XX. Ông còn là một nhà văn, nhà thơ lớn với những sáng tác ở nhiều thể loại. Bài thơ “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” được sáng tác khi Phan Bội Châu bị bọn phiệt tỉnh Quảng Đông bắt giam. Bài thơ thể hiện phong thái ung dung đường hoàng đĩnh đạc, khí phách kiên cường bất khuất vượt lên cảnh tù túng của một chiến sĩ yêu nước. Mời các bạn tham khảo một số bài soạn “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” mà danh sách đã tổng hợp trong bài viết dưới đây để chuẩn bị kiến thức tốt nhất trước khi đến lớp.

Bài soạn “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” của Phan Bội Châu số 2

Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm

1. Tác giả

Phan Bội Châu (1867 – 1940), tên thuở nhỏ là Phan Văn San, tên hiệu chính là Sào Nam, người làng Đan Nhiệm (có tài liệu ghi là Đan Nhiễm), nay là xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

– Năm 33 tuổi, Phan Bội Châu đỗ Giải nguyên (đỗ đầu kì thi Hương).

– Là một nhà yêu nước, nhà cách mạng lớn nhất của dân tộc ta trong vòng 25 năm đầu thế kỉ XX, từng xuất dương sang Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan để mưu đồ sự nghiệp cứu nước.

– Phan Bội Châu cũng là một nhà văn, nhà thơ lớn, có sự nghiệp sáng tác khá đồ sộ.

– Tác phẩm của ông bao gồm rất nhiều thể loại, tất cả đều thể hiện lòng yêu nước, thương dân tha thiết, khát vọng độc lập, tự do và ý chí chiến đấu bền bỉ, kiên cường: Hải ngoại huyết thư (thơ chữ Hán), Sào Nam thi tập (thơ chữ Hán và chữ Nôm), Trùng Quang tâm sử (tiểu thuyết chữ Hán), Văn tế Phan Châu Trinh (chữ Nôm), Phan Bội Châu niên biểu (hồi kí chữ Hán),…

2. Tác phẩm

– Bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác nằm trong tác phẩm Ngục trung thư (Thư viết trong ngục) viết bằng chữ Hán, sáng tác vào đầu năm 1914 khi Phan Bội Châu bị bọn quân phiệt tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) bắt giam. Ngục trung thư có thể xem là tập tự truyện đầu tiên của Phan Bội Châu, có ý nghĩa như một bức thư tuyệt mệnh. Phan Bội Châu làm bài thơ này bộc lộ cảm xúc của mình trong những ngày đầu mới vào ngục.

– Bố cục tác phẩm (đề – thực – luận – kết):

Hai câu đề: khí phách ngang tàng, bất khuất của nhà chí sĩ khi rơi vào tù ngục.
Hai câu thực: tự nghiệm về cuộc đời sóng gió.
Hai câu luận: hình tượng người anh hùng.
Hai câu kết: khẳng định tư tưởng nhà thơ.
– Nội dung chính: Bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác thể hiện phong thái ung dung, khí phách hiên ngang kiên cường, bất khuất vượt mọi hoàn cảnh tù ngục của nhà chí sĩ cách mạng.


1- Trang 147 SGK

Phân tích cặp câu 1 – 2, tìm hiểu khí phách và phong thái của nhà chí sĩ khi rơi vào vòng tù ngục.

Trả lời

– Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu

+ Tự xưng mình là hào kiệt: ý thức mạnh mẽ về tài năng, chí khí của bản thân

+ Ý thức về cốt cách, phong thái ung dung, hào hoa, phong lưu

+ Điệp từ “vẫn” khẳng định chắc chắn bản lĩnh của bậc anh hào.

– Chạy mỏi chân thì hãy ở tù

+ Thản nhiên, lạc quan, hiên ngang dù rơi vào cảnh ngục tù

+ “mỏi chân” nên “ở tù”: sự chủ động nghỉ ngơi như lẽ tất yếu

+ Hiên ngang khinh thường cảnh tù ngục

➥ Khí phách của người anh hùng trước hiểm nguy vẫn kiên cường, lạc quan. Chí khí này thường tồn tại trong nền văn học truyền thống (thơ tỏ chí)

2- Trang 147 SGK

Đọc lại cặp câu 3-4, em thấy giọng điệu có gì thay đổi so với hai câu thơ trên? Vì sao? Lời tâm sự ở đây có ý nghĩa như thế nào?

Trả lời

– Giọng thơ có sự thay đổi: từ giọng hào hùng, ngang tàng chuyển sang giọng trầm lắng, suy tư lúc lâm nguy

– Nhìn thẳng vào hoàn cảnh khó khăn của bản thân ( khách không nhà, người có tội) để kiên tâm, vững chí hơn trên con đường còn gian nan.

– Lời tâm sự chân tình có ý nghĩa:

+ Thể hiện cuộc đời làm cách mệnh gian nan, khó khăn, phải bôn ba xứ người, xa quê, xa người thân

+ Tạo hình ảnh đối lập giữa hai cặp câu nhấn mạnh sự lênh đênh, cuộc đời sóng gió qua đó nổi bật lên hình ảnh người chí sĩ yêu nước kiên cường.

3- Trang 147 SGK

Em hiểu thế nào về ý nghĩa cặp câu 5-6? Lối nói khoa trương ở đây có tác dụng gì trong việc biểu hiện người anh hùng, hào kiệt.

Trả lời

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế

Mở miệng cười tan cuộc oán thù

– Ý nghĩa 2 câu thơ 5-6:

+ Khẳng định sự quyết tâm bền chí trước sự nghiệp cứu nước, cứu đời lớn lao

+ Tiếng cười của bậc anh hùng vẫn ngạo nghễ, đập tan những oán thù

– Lối nói quá nhằm:

+ Nâng lên sức vóc người anh hùng lên tới mức siêu nhiên, phi thường

+ Tạo giọng điệu hào hùng chung cho toàn bài thơ

– Cặp câu này vẫn tuân thủ quy tắc đối nhằm giữ nhịp cho toàn bài

4- Trang 147 SGK

Hai câu thơ cuối là kết tinh tư tưởng của toàn bài thơ. Em cảm nhận được điều gì từ hai câu thơ ấy?

Trả lời

Hai câu thơ cuối:

– Kết tinh cao độ ý chí và cảm xúc lãng mạn hào hùng của tác giả

– Điệp từ “còn” nhấn vào sự tiếp diễn, tiếp tục chiến đấu vì đất nước

– Lời thách thức “nguy hiểm sợ gì đâu”: giữ vững ý chí, lý tưởng, kiên định với sự nghiệp cứu nước, vươn lên, bất chấp những hiểm nguy.

Luyện tập

Câu hỏi – Trang 148 SGK

Ôn lại kiến thức đã học về thể thơ thất ngôn bát cú, em hãy nhận dạng thể thơ của bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác về các phương diện số câu, số chữ, cách gieo vần.

Trả lời

– Thể thơ thất ngôn bát cú bắt nguồn từ thơ Đường, phổ biến ở Việt Nam vào thời Bắc thuộc, chủ yếu cây bút quý tộc sử dụng.

+ Cấu trúc bài thất ngôn bát cú gồm 8 câu, 7 chữ tạo thành đề – thực – luận – kết

+ Luật lệ bằng trắc:

Các tiếng nhất (1) – tam (3) – ngũ (5) bất luận

Các tiếng nhị (2) – tứ (4) lục (6) phân minh

+ Gieo vần: các tiếng cuối câu 1, 2, 4, 6, 8 hiệp vần với nhau

– Bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật: 8 câu, 7 chữ, gieo vần ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8.

Bài soạn “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” của Phan Bội Châu số 6

Tìm hiểu chung tác phẩm

Tác giả

Phan Bội Châu (1867-1940), hiệu Sào Nam. Là nhà yêu nước, nhà cách mạng lớn nhất của dân tộc ta những năm đầu thế kỷ XX.
Ông cũng là một nhà văn, nhà thơ lớn, có sự nghiệp sáng tác khá đồ sộ. Tác phẩm của ông thuộc nhiều thể loại, tất cả đều thể hiện lòng yêu nước, thương dân tha thiết, khát vọng độc lập, tự do và ý chí chiến đấu
Tác phẩm

“Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” là bài thơ nôm nằm trong tác phẩm” Ngục trung thư”. Bài thơ được sáng tác năm 1914, khi Phan Bội Châu bị bọn quân phiệt tỉnh Quảng Đông bắt giam.
Thể thơ: Thơ Đường luật thất ngôn bát cú
Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Có thể hình dung về cấu trúc như sau:
Hai câu đầu diễn tả hoàn cảnh (Chạy mỏi chân thì hãy ở tù)
Bốn câu giữa chia thành hai cặp đối nhau cả ý và từ diễn tả tâm trạng, thể hiện bản lĩnh, khí phách…
Hai câu cuối khép lại vấn đề, khẳng định tư tưởng, cảm xúc chủ đạo… của cả bài thơ.

Câu 1: Phân tích các câu 1 – 2, tìm hiểu khí phách và phong thái của nhà chí sĩ …

Phân tích các câu 1 – 2, tìm hiểu khí phách và phong thái của nhà chí sĩ khi rơi vào vòng tù ngục (chú ý các từ hào kiệt, phong lưu và quan niệm chạy mỏi chân thì hãy ở tù).

Trả lời:

Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưuChạy mỏi chân thì hãy ở tù

Nhân vật trữ tình hiện ra với một phong thái đường hoàng, tự tin đến ngang tàng, ngạo mạn. Giọng đùa vui, tự trào làm tan biến đi cảm giác của một người tù, chỉ thấy một tư thế cao ngạo, xem thường hiểm nguy.
Thông thường bị tù đày đọa là lúc làm nhụt đi ý chí của con người, tù đày là mang đến sự cô đơn, đau đớn. Nhưng đối với Phan Bội Châu, ông xem ngồi tù chỉ là trạm nghỉ của cuộc mỏi chân. Hoàn cảnh dù có đổi thay, nguy biến có thể ập đến bất cứ lúc nào nhưng chí khí thì chẳng khi nào lay chuyển.


Câu 2:
Đọc lại cặp câu 3 – 4, em thấy giọng điệu có gì thay đổi so với hai câu thơ trên?…

Đọc lại cặp câu 3 – 4, em thấy giọng điệu có gì thay đổi so với hai câu thơ trên? Vì sao? Lời tâm sự ở đây có ý nghĩa như thế nào?

Trả lời:

Đã khách không nhà trong bốn biểnLại người có tội giữa năm châu

Về giọng điệu: Từ hai câu đầu với giọng thơ hài hước, đùa vui thì hai câu thơ 3-4 mang một giọng điệu trầm buồn, như một nỗi đau cố nén.
Ý nghĩa lời tâm sự:
Khách không nhà: Cuộc đời bôn ba của Phan Bội Châu đầy sóng gió và nhiều bất trắc. Mười năm bôn ba phiêu bạt khắp nơi, Phan Bội Châu đã từng nếm trải cảnh không mái ấm gia đình, cực khổ về vật chất, cay đắng về tinh thần. Chỉ vì hết lòng muốn tìm đường cứu nước, chỉ vì yêu đất nước, dân tộc mình mà người chí sĩ bị xem như một tội nhân, bị truy nã khắp nơi (ông bị thực dán Pháp tuyên án tử hình và truy nã khắp nơi).
Ông than cho số phận cá nhân của mình cũng chính là đau với nỗi đau của một dân tộc mất nước. Đó là nỗi buồn của một người tù yêu nước, của một nhân cách cao cả.


Câu 3:
Em hiểu thế nào về ý nghĩa của cặp câu 5 – 6? Lối nói khoa trương…

Em hiểu thế nào về ý nghĩa của cặp câu 5 – 6? Lối nói khoa trương ở đây có tác dụng gì trong việc biểu hiện hình ảnh người anh hùng, hào kiệt?

Trả lời:

Ý nghĩa của cặp câu 5-6:

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tếMở miệng, cười tan cuộc oán thù

Bồ kinh tế là hoài bão tự muốn cứu đời, cứu nước, cứu dân, hai tay ôm chặt thật mạnh mẽ quyết liệt, là lời thề chiến đấu đến cùng. Cho dù có ở tình trạng bi kịch đến mức độ nào thì chí khí của bậc anh hùng, hào kiệt vẫn không thay đổi, vẫn một lòng theo đuổi sự nghiệp cứu nước, cứu đời; vẫn có thể ngạo nghễ cười trước mọi âm mưu thủ đoạn tàn bạo của kẻ thù.
Biện pháp khoa trương (thường được dùng trong lối thơ khẩu khí) đã có tác dụng trong việc nâng tầm vóc của con ngưòi vốn nhỏ bé trong vũ trụ trở nên hết sức lớn lao, đến mức thần thánh. Lối nói này kích thích cảm xúc cua người đọc, tạo nên sức truyền cảm nghệ thuật mạnh mẽ.


Câu 4:
Hai câu thơ cuối là kết tinh tư tưởng của toàn bài thơ…

Hai câu thơ cuối là kết tinh tư tưởng của toàn bài thơ. Em cảm nhận được điều gì từ hai câu thơ ấy?

Trả lời:

Thân ấy hãy còn còn sự nghiệp.Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu.

Điệp từ “còn” thể hiện niềm tin mãnh liệt, sắt đá của người chí sĩ yêu nước, dù còn hơi thở cuối cùng vẫn sẽ theo đuổi sự nghiệp cứu nước giúp dân. Câu thơ kết là lời thách thức với thực tế, nhà tù khắc nghiệt trước mắt và những chông gai khó khăn ở phía trước. Tâm thức của người anh hùng vượt lên trên sự gian khổ, và sự bạo tàn của kẻ thù.
Câu thơ như một lời tuyên ngôn đanh thép, rắn rỏi. Bằng giọng điệu hào hùng có sức lôi cuốn mạnh mẽ, bài thơ là bức chân dung tự họa con người tinh thần của Phan Bội Châu với phong thái ung dung, đường hoàng và khí phách kiên cường, bất khuất vượt lên trên cảnh tù khốc liệt.


Luyện tập

Câu 1: Ôn lại những kiến thức đã học về thể thất ngôn bát cú Đường luật,…

Ôn lại những kiến thức đã học về thể thất ngôn bát cú Đường luật, em hãy nhận dạng thể thơ của bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác về các phương diện số câu, số chữ, cách gieo vần.

Trả lời:

Bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú Đường luật.
Về số câu, bài thơ gồm 8 câu, chia thành 4 cặp: đề – thực – luận – kết
Mỗi câu 7 chữ (thất ngôn bát cú)
Chữ thứ hai của câu 1 là chữ “là” thuộc thanh bằng, như vậy bài thơ này được viết theo luật bằng.
Chữ “lưu” ở cuối câu 1 thuộc thanh bằng, dùng để gieo vần. Đây là căn cứ xác định bài thơ có vần bằng. Toàn bộ bài thơ có 5 chữ gieo vần bằng :”lưu – tù – châu – thù – đâu”

Bài soạn “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” của Phan Bội Châu số 3

I. Đôi nét về tác giả Phan Bội Châu
Phan Bội Châu 1867- 1940) tên thuở nhỏ là Phan Văn San, tên hiệu là Sào Nam
– Quê quán: làng Đan Nhiệm nay là xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
– Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
+ Năm 33 tuổi ông đỗ Giải Nhất kì Thi Hương đầu
+ Phan Bội Châu là một nhà yêu nước, nhà cách mạng lớn nhất của dân tộc ta trong vòng 20 năm đầu thế kỉ XX
+ Ông đã từng sang nhiều nước để mưa đồ sự nghiệp cứu nước
+ Ông còn là một nhà văn, nhà thơ lớn với những sáng tác ở nhiều thể loại
+ Những tác phẩm tiêu biểu: Sào Nam thi tập, Văn tế Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu niên biểu…
– Phong cách sáng tác: Những sáng tác của ông đều thể hiện lòng yêu nước thương dân tha thiết và khát vọng độc lập tự do, ý chí bền bỉ kiên cường

II. Đôi nét về bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác
1. Hoàn cảnh sáng tác

– Bài thơ được sáng tác khi Phan Bội Châu bị bọn phiệt tỉnh Quảng Đông bắt giam, trong hoàn cảnh ấy ông đã viết tác phẩm Ngục trung thư tập, “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” là bài thơ Nôm nằm trong tập Ngục trung thư tập
2. Thể loại

– Bài thơ sáng tác theo thể loại thất ngôn bát cú Đường luật
3. Giá trị nội dung

– Bài thơ thể hiện phong thái ung dung đường hoàng đĩnh đạc, phí phách kiên cường bất khuất vượt lên cảnh tù túng của người chiến sĩ yêu nước Phan Bội Châu
4. Giá trị nghệ thuật

– Bài thơ sử dụng thành công thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với phép đối chặt chẽ, giọng thơ hào hùng có sức lôi cuốn, có sự vui đùa hóm hỉnh nhưng vẫn đầy hào khí anh hùng


III. Đọc – hiểu văn bản

Câu 1:

Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác được viết theo thể Đường luật thất ngôn bát cú

Câu 2:

Theo bố cục một bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú, cặp 1, 2 được gọi là phần đề (thừa đề và phá đề). Phần này thường có nội dung nhằm giới thiệu vấn đề cần nói tới. Ở đây, vấn đề cần nói tới của nhà thơ là hoàn cảnh mình, mình bị bắt giam.

Câu 3: Nhà thơ nói đến tình cảnh bôn ba làm cách mạng của mình, cuộc đời sóng gió đầy bất trắc của mình như vậy đâu phải để than thân bởi vì đằng sau tình cảnh bi kịch ấy của ông là bi kịch lớn của cả đất nước.

Câu 4: Bài thơ có sức truyền cảm lớn phải chăng nhờ ở giọng điệu hào hùng bắt nguồn từ lòng yêu nước cháy bỏng của nhà thơ. Do nguồn cảm xúc trữ tình mãnh liệt, một cảm hứng lãng mạn cách mạng trào dâng vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của lao tù, dựng lên một hình ảnh thật đẹp của người tù thi sĩ yêu nước.

IV. Luyện tập

Bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác viết bằng thể thất ngôn bát cú Đường luật. Chữ thứ hai của câu 1 là chữ “là” thuộc thanh bằng,

Như vậy bài thơ này được viết theo luật bằng. Chữ “lưu” ở cuối câu 1 thuộc thanh bằng, dùng để gieo vần. Đây là căn cứ xác định bài thơ có vần bằng. Toàn bộ bài thơ có 5 chữ gieo vần bằng : “lưu – tù – châu – thù – đâu”.

Bài soạn “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” của Phan Bội Châu số 1

Bố cục

+ Hai câu đề: Khẳng định tinh thần bất khuất phi thường

+ Hai câu thực: chiêm nghiệm về cuộc đời sóng gió

+ Hai câu luận: Hình tượng bậc anh tài có tài năng, chí khí

+ Hai câu kết: sự bền chí, vững lòng của anh hùng

Thể loại: Thơ thất ngôn bát cú Đường luật


Câu 1 (trang 147 sgk Ngữ Văn 8 tập 1)

– Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu

+ Tự xưng mình là hào kiệt: ý thức mạnh mẽ về tài năng, chí khí của bản thân

+ Ý thức về cốt cách, phong thái ung dung, hào hoa, phong lưu

+ Điệp từ “vẫn” khẳng định chắc chắn bản lĩnh của bậc anh hào.

– Chạy mỏi chân thì hãy ở tù

+ Thản nhiên, lạc quan, hiên ngang dù rơi vào cảnh ngục tù

+ “mỏi chân” nên ” ở tù”: sự chủ động nghỉ ngơi như lẽ tất yếu

+ Hiên ngang khinh thường cảnh tù ngục

= > Khí phách của người anh hùng trước hiểm nguy vẫn kiên cường, lạc quan. Chí khí này thường tồn tại trong nền văn học truyền thống (thơ tỏ chí)

Câu 2 ( trang 147 sgk Ngữ văn 8 tập 1)

– Giọng thơ có sự thay đổi: từ giọng hào hùng, ngang tàng chuyển sang giọng trầm lắng, suy tư lúc lâm nguy

– Nhìn thẳng vào hoàn cảnh khó khăn của bản thân ( khách không nhà, người có tội) để kiên tâm, vững chí hơn trên con đường còn gian nan.

– Lời tâm sự chân tình có ý nghĩa:

+ Thể hiện cuộc đời làm cách mệnh gian nan, khó khăn, phải bôn ba xứ người, xa quê, xa người thân

+ Tạo hình ảnh đối lập giữa hai cặp câu nhấn mạnh sự lênh đênh, cuộc đời sóng gió qua đó nổi bật lên hình ảnh người chí sĩ yêu nước kiên cường.

Câu 3 (trang 147 sgk Ngữ Văn 8 tập 1)

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế

Mở miệng cười tan cuộc oán thù

Ý nghĩa 2 câu thơ 5- 6:

+ Khẳng định sự quyết tâm bền chí trước sự nghiệp cứu nước, cứu đời lớn lao

+ Tiếng cười của bậc anh hùng vẫn ngạo nghễ, đập tan những oán thù

– Lối nói quá nhằm:

+ Nâng lên sức vóc người anh hùng lên tới mức siêu nhiên, phi thường

+ Tạo giọng điệu hào hùng chung cho toàn bài thơ

– Cặp câu này vẫn tuân thủ quy tắc đối nhằm giữ nhịp cho toàn bài

Câu 4 (trang 147 sgk Ngữ Văn 8 tập 1)

Hai câu thơ cuối:

+ Kết tinh cao độ ý chí và cảm xúc lãng mạn hào hùng của tác giả

+ Điệp từ “còn” nhấn vào sự tiếp diễn, tiếp tục chiến đấu vì đất nước

+ Lời thách thức “nguy hiểm sợ gì đâu”: giữ vững ý chí, lý tưởng, kiên định với sự nghiệp cứu nước, vươn lên, bất chấp những hiểm nguy.

Luyện tập

Bài 1 (trang 148 Ngữ Văn 8 tập 1)

– Thể thơ thất ngôn bát cú bắt nguồn từ thơ Đường, phổ biến ở Việt Nam vào thời Bắc thuộc, chủ yếu cây bút quý tộc sử dụng.

+ Cấu trúc bài thất ngôn bát cú gồm 8 câu, 7 chữ tạo thành đề- thực- luận– kết

+ Luật lệ bằng trắc:

Các tiếng nhất(1)- tam(3)- ngũ (5) bất luận

Các tiếng nhị (2)- tứ(4) lục (6) phân minh

+ Gieo vần: các tiếng cuối câu 1, 2, 4, 6, 8 hiệp vần với nhau

– Bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật: 8 câu, 7 chữ, gieo vần ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8.

Nội dung chính

Bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác thể hiện phong thái ung dung, khí phách hiên ngang kiên cường, bất khuất vượt mọi hoàn cảnh tù ngục của nhà chí sĩ cách mạng

Bài soạn “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” của Phan Bội Châu số 4

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu về tác giả Phan Bội Châu trong SGK Ngữ văn 8 Tập 1)

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Văn bản Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác là một bài thơ Nôm nằm trong tác phẩm Ngục trung thư (Thư viết trong ngục) viết bằng chữ Hán, được sáng tác vào đầu năm 1914, khi Phan Bội Châu bị bọn quân phiệt tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) bắt giam. Ngục trung thư có thể xem là tập tự truyện đầu tiên của Phan Bội Châu, có ý nghĩa như một bức thư tuyệt mệnh. Phan Bội Châu làm bài thơ này bộc lộ cảm xúc của mình trong những ngày đầu mới vào ngục. Nhan đề bài thơ là do những NBS sách về sau đặt.

* Thể thơ: Văn bản Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

* Bố cục:

Hai câu đề: Khí phách ngang tàn, bất khuất của nhà chí sĩ khi rơi vào tù ngục.
Hai câu thực: Chiêm nghiệm về cuộc đời sóng gió.
Hai câu luận: Hình tượng người anh hùng có tài năng, chí khí.
Hai câu kết: Khẳng định tư tưởng của bài thơ.


II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Hai câu đầu:

Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù.

Câu thơ thứ nhất:

Tự xưng mình là hào kiệt: Ý thức mạnh mẽ về tài năng, chí khí của bản thân.
Ý thức về cốt cách, phong thái ung dung, hào hoa, phong lưu
Điệp từ “vẫn” khẳng định chắc chắn bản lĩnh của bậc anh hào.
Câu thơ thứ hai:

Thể hiện tinh thần lạc quan, phong thái hiên ngang dù bị rơi vào cảnh ngục tù.
“mỏi chân” nên “ở tù”: đây là lẽ tất yếu, khi chạy mỏi chân thì cần phải nghỉ ngơi.
Thể hiện sự hiên ngang, khinh thường cảnh ngục tù
=> Khí phách ngang tàn, bất khuất, ung dung, đường hoàng của người anh hùng trước những hiểm nguy mà vẫn kiên cường, lạc quan. Chí khí này thường tồn tại trong nền văn học truyền thống.

Câu 2:

* Giọng thơ có sự thay đổi: từ giọng hào hùng, ngang tàn, chuyển sang giọng trầm lắng, suy tư lúc lâm nguy.

* Lời tâm sự chân tình có ý nghĩa:

Thể hiện cuộc đời làm cách mạng gian nan, khó khăn, phải bôn ba xứ người, xa quê, xa người thân.
Tạo nên hình ảnh đối lập giữa hai cặp câu nhấn mạnh sự lênh đênh, cuộc đời sóng gió qua đó nổi bật lên hình ảnh người chí sĩ yêu nước kiên cường, bất khuất.


Câu 3:

* Ý nghĩa của hai câu thơ 5 và 6:

Bủa vây ôm chặt bồ kinh tế

Mở miệng cười tan cuộc oán thù.

Hai câu thơ trên khẳng định sự quyết tâm bền chí trước sự nghiệp cứu nước, cứu đời lớn lao của người chí sĩ. Bên cạnh đó, hai câu thơ cho chúng ta thấy tiếng cười của bậc anh hùng vẫn luôn ngạo nghễ, có khả năng đập tan những oán thù.

* Tác dụng của lối nói khoa trương:

Nâng lên sức vóc của người anh hùng chung cho toàn bài thơ
Tạo giọng điệu hào hùng chung cho toàn bài thơ


Câu 4:

Hai câu thơ cuối là cái kết tư tưởng cho bài thơ, kết tinh cao độ ý chí và cảm xúc lãng mạn hào hùng của tác giả. Bên cạnh đó, điệp từ “còn” nhấn mạnh vào sự tiếp diễn, tiếp tục chiến đấu vì đất nước. Đặc biệt, với lời thách thức “nguy hiểm sợ gì đâu” cho ta thấy ý chí kiên cường, lý tưởng cao đẹp, kiên định với sự nghiệp cứu nước, vươn lên, bất chấp những nguy hiểm.

Bài soạn “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” của Phan Bội Châu số 5

ĐỌC – HIỂU VĂN BẲN

Câu 1. Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông được viết theo thể Đường luật thất ngôn bát cú, tuân theo đúng các quy tắc về bố cục, vần, niêm luật… của thế thơ này. Bài thơ có tám câu, mỗi câu bảy chữ, gieo vần bằng vần ở chữ cuối câu đầu và cuối các câu chẵn.

Câu 2. Theo bố cục một bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú, cặp 1, 2 được gọi là phần đề (thừa đề và phá đề). Phần này thường có nội dung nhằm giới thiệu vấn đề cần nói tới. Ở đây, vấn đề cần nói tới của nhà thơ là hoàn cảnh mình, mình bị bắt giam.

Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu

Chạy mỏi chân thì hẵng ở tù.

Cảnh bị tù đày của mình được nhà thơ nói tới bằng một giọng vui đùa. Trong câu phá đề, điệp từ cần nhằm nhấn mạnh, khẳng định cho thấy khí phách ngang tàng cùa trang anh hùng hào kiệt và cốt cách của một bậc phong lưu tài tử.

Thông thường nói đến việc bị bắt vào nhà tù, người ta dễ nhấn mạnh vào khía cạnh rủi ro, đau khổ hay lo âu hay khiếp sợ: Nhưng ở đây, nhà thơ xem việc đó chẳng có gì là khủng khiếp, đáng buồn rầu mà xem đó chỉ là những giây phút nghỉ chân sau những ngày sôi nổi hoạt động. Nên nhớ, thực chất có phải đâu là như vậy. Chính nhà thơ đã kể rằng mình bị áp giải đi nào xiềng tay, nào trói chặt vào nhà ngục lại bị giam chung một chỗ với bọn tù xử tử (Ngục trung thư).

Thế mà nhà thơ vẫn một phong thái đường hoàng tự tin, ung dung, thanh thản. Ngần đó đủ cho thấy khí phách bất khuất, ngang tàng không chịu khuất phục hoàn cảnh của cụ Phan.

Câu 3. Hai câu 3 và 4 gọi là hai câu thực

Đã khách không nhà trong bốn bể

Lại người có tội giữa năm châu.

Nếu hai câu đề có giọng điệu đùa vui pha lẫn tự hào thì hai câu thực này giọng điệu có vẻ ngậm ngùi thương cảm cho cảnh ngộ hiện tại của mình; là người tù khách không nhà, người có tội. Hai từ đã, lại mở đầu hai câu thơ này càng nhấn mạnh thêm tình cảnh ấy. Với cách gán khách không nhà với năm châu bốn bể, nhà thơ đã vẽ lên hình ảnh người tù một cách phóng khoáng, lớn lao và phi thường. Nhà thơ nói đến tình cảnh bôn ba làm cách mạng của mình, cuộc đời sóng gió đầy bất trắc của mình như vậy đâu phải để than thân bởi vì đằng sau tình cảnh bi kịch ấy của ông là bi kịch lớn của cả đất nước.

Tóm lại, từ ý tưởng đến giọng điệu bốn câu thơ đầu bài thơ thể hiện được tinh thần lạc quan, yêu đời, thái độ ngạo nghễ, coi thường lao tù của người tù thi sĩ Phan Bội Châu.

Câu 4. Thái độ ngạo nghễ, tinh thần lạc quan yêu đời không chịu cúi đầu khuất phục hoàn cảnh như đã phân tích bên trên là một biểu hiện của khí phách bất khuất hiên ngang của người tù – thi sĩ.

Đặc biệt hơn là ở hai câu luận:

Dang tay ôm chặt bổ kinh tế

Mở miệng cười tan cuộc oán thù.

Các động tác dang tay, mở miệng với lối nói khoa trương đã dựng lên được hình ảnh một người tù yêu nước, chí lớn, tài cao, có tầm vóc, khí phách hiên ngang bất khuất. Trong cảnh tù đày, con người ấy vẫn dang tay ôm chặt hoài bão lo cứu nước, cứu đời và mở miệng cười tan trước mọi thủ đoạn ghê gớm của kẻ thù. Ta từng bắt gặp khát vọng ấy trong một bài thơ khác, bài Chơi xuân của nhà thơ.

… Phùng xuân hội may ra, ừ cũng dễ

Nắm địa cầu vừa một tí con con.

Đạp toang hai cánh cửa càn khôn,

Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà.

Đặt trong hoàn cảnh bị tù đày kề bên cái chết, nhưng khát vọng ấy, khí phách ấy có suy giảm chi đâu!

Niềm tin mãnh liệt của nhà thơ thể hiện ở hai câu kết:

Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu.

Hai tiếng còn đứng kề bên nhau ở giữa câu thơ khiến người đọc phải ngắt nhịp một cách mạnh mẽ, làm cho bài thơ dõng dạc, dứt khoát, tạo nên âm điệu khẳng định chắc nịch, ý chí đấu tranh cho sự nghiệp cứu nước lo đời. Còn sống là còn chiến đấu, còn tin tưởng là sự nghiệp chính nghĩa của mình nhất định phải thắng lợi.

Bài thơ có sức truyền cảm lớn phải chăng nhờ giọng điệu hào hùng bắt nguồn từ lòng yêu nước cháy bỏng của nhà thơ. Do nguồn cảm xúc trữ tình mãnh liệt, một cảm hứng lãng mạn cách mạng trào dâng vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của lao tù, dựng lên một hình ảnh thật đẹp của người tù thi sĩ yêu nước. Ở đây, người tù ngỡ như không bị giam chặt, đày đọa trong tù ngục mà vẫn ung dung thanh thản, tư thế hiên ngang của con người vượt lên cái chết và hoàn cảnh khắc nghiệt, giữ vững chí lớn và lòng tin mãnh liệt. Từ đầu đến cuối bài thơ toát lên tinh thần lạc quan, yêu đời từ chính giọng thơ vui vẻ, yêu đời…

• Ghi nhớ (SGK): Bằng giọng điệu hào hùng có sức lôi cuốn mạnh mẽ, bài thơ đã thể hiện phong thái ung dung, đường hoàng và khí phách kiên cường, bất khuất vượt lên trên cảnh tù ngục khốc liệt của chính tác giả.

About