Top 6 Bài soạn “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử lớp 11 hay nhất

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử sáng tác năm 1938 in trong tập “Thơ điên” sau đổi thành “Đau thương”. Bài thơ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của con người tha thiết yêu đời, yêu người. Mời các bạn đọc tham khảo một số bài soạn hay nhất đã được danh sách tổng hợp để cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp ấy.

Bài soạn “Đây thôn Vĩ Dạ” số 1

Bố cục

– Đoạn 1: vườn Vĩ Dạ lúc ban mai trong tâm tưởng thi sĩ

– Đoạn 2: cảnh sông nước xứ Huế đêm trăng và tâm trạng thi sĩ

– Đoạn 3: hình bóng khách đường xa và nỗi niềm mơ tưởng, hoài nghi

Câu 1 (Trang 39 sgk ngữ văn 11 tập 2):

* Câu thơ mở “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

– Gợi lên cảm giác trách móc, đó cũng là lời mời tha thiết của cô gái thôn Vĩ với nhà thơ

– Có thể hiểu: nhà thơ như tự trách mình, và khao khát của người đi xa mong trở về

– Sử dụng từ “về chơi” gợi lên sự gần gũi, thân mật, chân tình hơn

– Câu hỏi trong vọng tưởng ấy làm sống dậy trong tâm hồn nhà thơ:

+ Khao khát, kỉ niệm sâu sắc, hình ảnh đẹp đẽ và đáng yêu

+ Hình ảnh người con gái thôn Vĩ, nơi có người nhà thơ thương mến

* Hai câu thơ tiếp vừa tả cảnh, vừa gợi tình:

+ Những ấn tượng mạnh mẽ còn lưu lại trong trí nhớ của tác giả

+ Câu thơ như bao quát tầm nhìn của người quan sát: hình ảnh hàng cau thẳng tắp trong nắng sớm

+ Quan sát tinh tế: thấy được sự giao hòa của cảnh vật

+ Câu thơ gợi được cái nắng gió của miền Trung, nắng chói chang, rực rỡ ngay từ lúc bình minh

– Gợi lên được vẻ đẹp của nắng nơi đây, nắng mới lên trong trẻo, tinh khiết, có cảm giác làm bừng sáng sự hồi tưởng của nhà thơ

– Câu thơ thứ ba gợi lên cái nhìn gần gũi của những người đang đi trong khu vườn tươi đẹp của thôn Vĩ

+ Cây cối bao quanh nhà cửa tạo thành cấu trúc xinh xắn đầy tính thẩm mĩ vườn – nhà

+ Từ “mướt” gợi lên sự chăm sóc tươi tốt đầy sức sống của vườn cây, cái sạch sẽ láng bóng của những chiếc lá dưới ánh mặt trời

* Câu thơ cuối có sự hiện hữu của con người làm cho cảnh vật thêm sinh động

+ Sự xuất hiện của con người ý nhị, kín đáo, đúng với bản chất người Huế nhẹ nhàng

+ Khuôn mặt chữ điền: khuôn mặt phúc hậu, cương trực, ngay thẳng

→ Hàn Mặc Tử gợi được cái thần thái của thôn Vĩ: cảnh đẹp, người phúc hậu, thiên nhiên và con người hài hòa

Câu 2 (trang 39 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Ở khổ thơ tâm trí Hàn Mặc Tử hướng về hình ảnh không thể tách rời thôn Vĩ Dạ, đó là sông Hương với nét tiêu biểu cho xứ Huế êm đềm, thơ mộng

+ Ẩn sâu bên trong là nhiều cảm xúc, suy tư của nhà thơ

– Trong hai câu thơ đầu, Hàn Mặc Tử tả thực vẻ êm đềm, nhịp điệu khoan thai của xứ Huế: gió mây bay nhè nhẹ, dòng chảy lững lờ, cây cỏ khẽ đung đưa

– Tác giả nhân hóa, diễn tả sự chia lìa, tan rã

+ Dòng nước: buồn thiu. Dòng sông lặng lờ bất động, không muốn chảy như đánh mất đi sự sống của mình

+ Hoa bắp lay: sự lay động nhẹ nhàng

– Cảnh vật buồn, lòng người buồn

– Hình ảnh sông trăng, con thuyền lung linh, kì ảo

+ Bút pháp tượng trưng thể hiện sự khao khát hạnh phúc

+ Câu hỏi: thể hiện sự mong ngóng, hi vọng và cả nỗi đau thương, tuyệt vọng

→ Câu thơ đẹp, gợi cảm, gợi cảm giác bâng khuâng, xót xa

Câu 3 (trang 39 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Ở khổ thơ thứ ba, nhà thơ bộc lộ tâm tư, tình cảm với người xứ Huế

– Trước hết, điệp ngữ khách đường xa, câu thơ mở đầu khổ thơ nhấn mạnh thêm nỗi xót xa, những lời tâm sự với chính mình

+ Trước lời mời của cô gái thôn Vĩ, có lẽ nhà thơ chỉ là người khách quá xa xôi, hơn thế

+ Thiết tha hướng về thôn Vĩ cảm thấy xa vời, khó tiếp cận

+ Điệp ngữ “khách đường xa” đó là khoảng cách trong tâm tưởng nhà thơ, khoảng cách của hai thế giới

– Hình ảnh khó nắm bắt, mờ ảo của cả con người và cảnh vật thể hiện qua từ: xa, trắng quá, sương khó, mờ, ảnh… tăng cảm giác khó nắm bắt

– Sống trong mơ mộng, hư ảo của sương khói Huế, màu áo dài cũng thấp thoáng, mờ ảo

– Câu thơ cuối gợi chút hoài nghi khi sử dụng đại từ phiếm chỉ ai, mở ra ý nghĩa của câu thơ

→ Những câu thơ gợi lên tình cảm tha thiết, đậm đà của tác giả nhưng chứa đựng nỗi xót xa, cô đơn, trống vắng

Câu 4 (trang 39 sgk ngữ văn 11 tập 2):

– Tứ thơ là ý chính, ý lớn bao quát bài thơ, là điểm tựa cho sự vận động cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng toàn bài thơ

– Tứ thơ bắt đầu với cảnh đẹp thôn Vĩ bên dòng sông Hương: gợi lên những liên tưởng thực và ảo

+ thể hiện nhiều nỗi niềm cảm xúc, suy tư về cảnh và người xứ Huế

+ Trạng thái mặc cảm, uẩn khúc, nhưng cũng chưa tin yêu, hi vọng

– Bút pháp của nhà thơ kết hợp hài hòa tả thực, tượng trưng với lãng mạn, trữ tình

Cảnh đẹp xứ Huế đậm nét tả thực mà lại có tầm cao tượng trưng

+ Sự mơ mộng làm tăng thêm sắc thái lãng mạn

+ Nét chân thực làm bật lên chất trữ tình


LUYỆN TẬP

Bài 1 (trang 40 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Câu hỏi bày tỏ tâm trạng. Các câu hỏi xuất hiện ở cả ba khổ thơ kết nối cảm xúc của toàn bài thơ

– Khổ 1: Sao anh không về chơi thôn Vĩ

+ Sự trách móc của cô gái thôn Vĩ

+ Tiếng lòng của tác giả mong ngóng ngày trở về

– Khổ 2: Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay?

+ Nét đẹp của sông Hương huyền ảo thơ mộng

+ Hình ảnh ánh trăng gắn liền với thơ Hàn Mặc Tử, cho thấy tình yêu với Huế, người Huế

+ Hình ảnh con thuyền chở trăng cũng chính là chở đầy tâm trạng mong ngóng của tác giả

Khổ 3: Ai biết tình ai có đậm đà?

+ Hoài nghi tình cảm

+ Cũng là những tha thiết trong lòng tác giả

Đều không phải là câu hỏi vấn đáp mà chỉ là câu hỏi để thể hiện cảm xúc, tâm trạng

Bài 2 (trang 40 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Nội dung bài thơ thể hiện nỗi buồn, niềm khoa khát con người tha thiết yêu đời, yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên, con người

+ Bài thơ mở ra nhiều cảnh đẹp của thiên nhiên, con người xứ Huế

+ Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt, khi tác giả đang phải chống trọi với căn bệnh nan y, sống với nỗi ám ảnh về cái chết, sự xa lạnh của người đời

+ Điều đó khiến người ta thương xót, cảm thông với số phận của tác giả, thêm cảm phục nghị lực, tài năng của Hàn Mặc Tử


Bài 3 (trang 40 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Hai tình cảm này có trong từng khổ thơ nhưng hàm chứa mức độ khác nhau:

+ Bài thơ làm hiện lên vẻ đẹp vê cảnh, người Huế, từ đó thấy được nỗi lòng, tình yêu quê thiết tha, sâu đậm của tác giả với quê hương, đất nước

– Ẩn trong câu từ, bài thơ thể hiện tình cảm của tác giả với người thôn Vĩ, nhớ mong, khắc khoải, hoài nghi

Bài soạn “Đây thôn Vĩ Dạ” số 4

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Tác giả

Hàn Mạc Tử ( 1912 – 1940), tên thật là Nguyễn Trọng Trí.Sinh tại Đồng Hới – Quảng Bình, lớn lên ở Quy Nhơn tỉnh Bình Định.
Cuộc đời và sự nghiệp:
Hàn Mặc Tử làm thơ từ 14, 15 tuổi với hiệu là Lệ Thanh, Phong Trần,…
Tuy cuộc đời nhiều bi thương nhưng ông là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào thơ Mới.
Năm 1936, ông mắc bệnh phong chuyển hẳn về Quy Nhơn chữa bệnh, ở đây nhà thơ không chịu nổi cảnh giam lỏng, cách ly với bên ngoài nên lấy thơ làm bạn. Sau đó ông mất tại Quy Hòa.
Các tác phẩm chính: gái quê, lúa chiêm, sao anh không về chơi thôn vĩ, nổi tiếng nhất là tập thơ Điên của ông.


2.Tóm tắt tác phẩm:

“Đây thôn Vĩ Dạ” sáng tác năm 1938, được in trong tập Thơ Điên.
Theo một số tài liệu, có thể bài thơ được lấy cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái vốn quê ở Vĩ Dạ, một thôn nhỏ bên dòng sông Hương xứ Huế thơ mộng. Hàn Mạc Tử trước khi bị bệnh có quen một cô gái tên là Hoàng Thị Kim Cúc, cả hai người đều có tình ý với nhau nhưng vốn là một con người nhút nhát nên Hàn Mạc Tử không nói ra. Đến khi Hàn mạc Tử bị bệnh thì cô gái tên Hoàng Cúc ngày nào giờ đã lấy chồng nhưng biết tin nhà thơ bị bệnh cô đã gửi một tấm bưu thiếp cho ông.
Bài thơ như một bức tranh đẹp về một miền đất nước, là tiếng lòng của một con người thiết tha yêu đời, yêu người.

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: Trang 39 sgk ngữ văn 11 tập 2

Phân tích nét đẹp của phong cảnh và tâm trạng của tác giả trong khổ thơ đầu.

Bài làm:
Câu thơ mở đầu “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” là câu hỏi mà thực ra là lời trách móc nhẹ nhàng và cũng là lời mời gọi tha thiết của cô gái thôn Vĩ với nhà thơ.
Hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên” ở thôn Vĩ mang một vẻ đẹp lấp lánh, tinh khiết. Được nhìn nắng mới, trên những lá cau non là khoảnh khắc khó quên.
Cảnh vườn “mướt”, “xanh như ngọc” cũng là một nét độc đáo của những khu biệt thự nhà vườn thôn Vĩ. Từ “mướt” gợi sự tươi non, sạch sẽ, láng bóng của từng chiếc lá dưới ánh mặt trời. Trong khi đó, hình ảnh so sánh “xanh như ngọc” gợi hình dung vé những tán cây xanh mướt, mượt mà được ánh nắng mặt trời rực rỡ buổi sớm mai chiếu xuyên qua ánh lên màu xanh trong suốt như màu ngọc.
Trong ba câu thơ đầu, con người chưa xuất hiện. Đến câu thơ thứ tư, sự xuất hiện ấy cũng không trọn vẹn. Nó ngượng ngùng, e ấp: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Khuôn mặt chữ điền phúc hậu càng có ấn tượng trong sự kín đáo, duyên dáng.

Câu 2: Trang 39 sgk ngữ văn 11 tập 2
Hình ảnh gió, mây, sông, trăng trong khổ thơ thứ hai gợi cảm xúc gì?
Bài làm:
Trong khổ thơ thứ hai Hàm Mặc Tử đã miêu tả bằng những hình ảnh rất ấn tượng như gió, mây, sông và trăng,…
“Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn hiu, hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay?”
Trong hai câu thơ đầu tiên gợi nên sự êm đềm, nhẹ nhàng của Huế mộng mơ. Hình ảnh gió và mây trong tự nhiên thường đi liền với nhau, tuy nhiên ở đây lại có cảm giác chia lìa mỗi thứ một hướng.
Dòng nước đìu hiu, êm đềm lặng lẽ trôi chứ không ồn ào sông nước.
Hình ảnh thuyền và trăng tạo sự lung linh, huyền ảo cho bức tranh thiên nhiên êm đềm trong hai câu thơ đầu.
Câu hỏi tu từ cuối bài như thể hiện nỗi mong ngóng, hi vọng ai đó sẽ về cùng đó thể hiện nỗi đau khổ tuyện vọng của nhân vật.

Câu 3: Trang 39 sgk ngữ văn 11 tập 2
Ở khổ thơ thứ ba, nhà thơ bộc lộ tâm sự của mình như thế nào? Chút hòai nghi trong câu thơ “Ai biết tình ai có đậm đà?” có biểu hiện niềm tha thiết với cuộc đời không? Vì sao?
Bài làm:
Trong khổ thơ thứ ba này, nhà thơ trực tiếp nói đến tình người xứ Huế khác với hai khổ thơ trên, đây chính là tâm trạng bộc bạch tác giả:
Trong câu thơ “Mơ khách đường xa, khách đường xa” nhìn ở góc độ nào ta cũng thấy sự đau khổ, câu thơ này có thể hiểu như chính nhà thơ là khách đường và và dù rất muốn nhưng không thể về thăm được.
Câu thơ “Áo em trắng quá nhìn không ra” có thể hiểu theo hai nghĩa, về nghĩa thực: xứ Huế nắng nhiều, mưa nhiều nên cũng nhiều sương khói, sương khói làm tăng thêm vẻ hư ảo, mộng mơ của Huế, nhưng sương và khói đều màu trắng, “áo em” cũng màu trắng thì chỉ có thể thấy bóng người thấp thoáng, mờ ảo. Về nghĩa bóng: cái sương khói làm mờ cả bóng người ấy phải chăng tượng trưng cho bao cái huyễn hoặc của cuộc đời đang làm cho tình người trở nên khó hiểu và xa vời?
Ta lại bắt gặp cuối đoạn thơ một câu hỏi tu từ nữa “Ai biết tình ai có đậm đà?” thể hiện sự hoài nghi của tác giả: nếu như tác giả một lòng hướng về xứ Huế thì không biết con người nơi đây có nhớ đến mình hay không? Dù hiểu theo nghĩa nào thì câu thơ cũng chỉ làm tăng thêm nỗi cô đơn, trống vắng trong một tâm hồn tha thiết yêu thương con người và cuộc đời.
Các từ: Xa, trắng quá, sương khó, mờ, ảnh … càng tăng cảm giác khó nắm bắt.

Câu 4: Trang 39 sgk ngữ văn 11 tập 2
Có gì đáng chú ý trong tứ thơ và bút pháp của bài thơ?
Bài làm:
Tứ thơ là ý chính, ý lớn bao quát bài thơ, là điểm tựa cho sự vận động của cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng toàn bài thơ. Ò bài thơ này, tứ thơ bắt đầu với cảnh đẹp thôn Vĩ bên dòng sông Hương, từ đó khơi gợi liên tưởng thực – ảo và mở ra bao nhiêu nỗi niềm cảm xúc, suy tư về cảnh và người xứ Huế với phấp phỏng những mặc cảm, uẩn khúc, niềm hi vọng, niềm tin yêu.
Bút pháp của nhà thơ sử dụng trong bài thơ này kếp hợp hài hoà điệu tả thực, tượng trưng, lãng mạn và trữ tình. Cảnh đẹp xứ Huế đậm nét tả thực mà lại có tính chất tượng trưng. Sự mơ mộng làm tăng thêm sắc thái lãng mạn. Nét chân thực của cảm xúc làm đậm thêm chất trữ tình.

LUYỆN TẬP
Câu 1: Trang 40 sgk ngữ văn 11 tập 2

Những câu hỏi trong bài thơ hướng tới ai và có tác dụng gì trong việc biểu hiện tâm trạng của tác giả?
Bài làm:
Những câu hỏi trong bài thơ không hướng tới một đối tượng cụ thể nào. Những câu hỏi này có tác dụng bày tỏ thái độ, nỗi niềm, cảm xúc của tác giả.
Trong câu hỏi đầu tiên ‘Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” như một lời trách móc nhẹ nhàng của người con gái.
Trong câu hỏi thứ hai “Có chở trăng về kịp tối nay?” là một câu hỏi tu từ thể hiện niềm hi vọng, tình yêu thương thầm kín của tác giả.
Trong câu hỏi cuối bài “Ai biết tình ai có đậm đà?” câu hỏi này làm tăng thêm nỗi cô đơn, trống vắng trong một tâm hồn tha thiết yêu thương con người và cuộc đời.

Câu 2: Trang 40 sgk ngữ văn 11 tập 2
Hoàn cảnh sáng tác và nội dung bài thơ gợi cho anh (chị) cảm nghĩ gì?
Bài làm:
Bài thơ được sáng tác sau khi nhà thơ bị mắc bệnh phong hai năm và đang điều trị tại trại phong Quy Hòa. Theo như một số tài liệu nhà thơ lấy cảm hứng từ chuyện tình của nhà thơ và người trong mộng. Hàn Mạc Tử trước khi bị bệnh có quen một cô gái tên là Hoàng Thị Kim Cúc, cả hai người đều có tình ý với nhau nhưng vốn là một con người nhút nhát nên Hàn Mạc Tử không nói ra. Đến khi Hàn Mạc Tử bị bệnh thì cô gái tên Hoàng Cúc ngày nào giờ đã lấy chồng nhưng biết tin nhà thơ bị bệnh cô đã gửi một tấm bưu thiếp cho ông.
Nội dung chính của bài thơ là tiếng lòng của một con người yêu tha thiết đời, yêu tha thiết người. Cùng với đó khi nhà thơ bị bệnh là khi đau khổ tuyệt vọng nhất, buồn bã nhất.
Điều đó khiến ta thêm thương xót và cảm thông với số phận của tác giả, thêm cảm phục một con người đầy tài năng và nghị lực, con người đã dũng cám vượt lên trên hoàn cảnh nghiệt ngã để sáng tác ra những vần thơ tài hoa về tình đời, tình người.

Câu 3: Trang 40 sgk ngữ văn 11 tập 2
Đây là bài thơ nói về tình yêu hay tình quê? Vì sao bài thơ diễn tả tâm trạng riêng của nhà thơ lại tạo được sự cộng hưởng rộng rãi và lâu bền trong tâm hồn các thế hệ bạn đọc?
Bài làm:
Bài thơ này là bài thơ về tình yêu thể hiện tình yêu của tác giả và Hoàng Thị Kim Cúc, tình yêu nhẹ nhàng thầm kín của hai người. Tuy nhiên qua tình yêu cá nhân cũng có thể thấy hiện lên tình yêu quê hương đất nước.
Bài thơ này làm hiện lên những vẻ đẹp về cảnh và người xứ Huế qua đó cho thấy được tình yêu thiết tha, đằm thắm của tác giả đối với quê hương đất nước. Ẩn trong lớp câu ngữ, bài thơ còn thể hiện tình cảm của Hàn Mặc Tử hướng về người thôn Vĩ: nhớ mong, khắc khoải, hoài nghi, vô vọng. Nhờ những tình cảm hết sức chân thực, cùng với những hình ảnh giàu sức lay động, bài thơ đã đi vào lòng thế hệ nhiều bạn đọc.

Giá trị nội dung và nghệ thuật của Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
Bài làm:
1. Giá trị nội dung

Cả bài thơ là một bức tranh thôn Vĩ vừa mang vẻ đẹp rất thực với tất cả nét trong sáng, tinh khôi, thơ mộng với những đặc trưng của thiên nhiên xứ Huế. Nhưng dường như những hình ảnh ấy mơ hồ, mờ nhòe như thực, như ảo. Tất cả được tái hiện lại qua kí ức của người nghệ sĩ.
Ba khổ thơ với những hình ảnh dường như không liên quan nhưng sự thực chúng là những mảnh ghép kí ức của nhà thơ. Đồng thời cũng là nỗi đau đớn, quằn quại của Hàn Mặc Tử khi khao khát được sống, tha thiết với đời còn quá sâu nặng mà thời gian còn lại của đời người lại quá ngắn ngủi.
=> Bài thơ vừa là tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước nhưng đồng thời cũng là khao khát sống đến cháy bỏng của nhà thơ.

2. Giá trị nghệ thuật
Mạch thơ đứt nối không theo tính liên tục của thời gian và duy nhất của không gian nhưng lại diễn tả mạch vận động nhất quán của dòng tâm tư
Hình ảnh độc đáo giàu sức gợi, ngôn ngữ cực tả trong sáng, súc tích khiến cho trường liên tưởng được mở rộng, khung cảnh thiên nhiên trở nên đẫy đà, giàu sức sống để nhấn mạnh hơn khao khát sống của người nghệ sĩ
Sử dụng hàng lọat câu hỏi tu từ, giọng điệu da diết khắc khoải khiến cho bài thơ đọng lại trong lòng người đọc là một nỗi băn khoăn, day dứt về cuộc đời.

Bài soạn “Đây thôn Vĩ Dạ” số 3

I. Tác giả – Tác phẩm

1.Tác giả

– Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí.

– Quê: Quảng Bình.

– Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới.

– Tác phẩm chính: Gái quê (1936), Thơ Điên (1938), Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, Duyên kì ngộ (kịch thơ – 1939)…

2. Tác phẩm

– Sáng tác 1938, in trong tập Thơ Điên.

– Bài thơ được sáng tác trong lúc nhà thơ ở xa Huế và đang mắc trọng bệnh.

– Bài thơ được sáng tác từ một kỉ niệm xưa được gợi lại của Hàn Mạc Tử.


II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 39 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Nét đẹp phong cảnh và tâm trạng của tác giả trong khổ thơ đầu:

– Câu thơ 1:

+ Hình thức: câu hỏi.

+ Nội dung: lời mời, lời trách móc -> tự phân thân, tự giãi bày tâm trạng: nuối tiếc, nhớ mong.

– Cảnh nơi thôn Vĩ: sống động, rạng ngời , gợi cảm giác khoẻ khoắn, ấm áp.

+ Hình ảnh: Nắng hàng cau – Nắng mới.

→ánh nắng ban mai tinh khiết trong lành chiếu lên những hàng cau còn ướt đẫm sương đêm.

→Nắng có linh hồn riêng. Nắng mang hồn xứ Huế.

+ ″Xanh như ngọc″: Biện pháp so sánh gợi lên màu sắc tươi sáng của vườn cây.

⇒ Bức tranh thiên nhiên trinh nguyên, đầy ắp ánh sáng, có màu sắc, có đường nét.

– Con người nơi thôn Vĩ: Lá trúc chen ngang mặt chữ điền:

+ ″Mặt chữ điền″: khuôn mặt hiền lành phúc hậu.

→con người trong vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng, e ấp.

→ Cảnh và người thôn Vĩ thật đẹp nhưng cũng chỉ là hoài niệm.


Câu 2 (trang 39 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Hình ảnh gió, mây, sông, trăng trong khổ thơ thứ hai:

– Không gian mênh mông có đủ gió, mây, sông, nước, trăng, hoa.

– Gió, mây, sông, trăng được nhân cách hoá để nói tâm trạng.

– Cái ngược đường của gió, mây gợi sự chia ly đôi ngả

→ nỗi đau thân phận xa cách, chia lìa.

⇒ Không gian trống vắng, thời gian như ngừng lại, cảnh vật hờ hững với con người.

– Hình ảnh thơ không xác định: ″Thuyền ai″, ″sông trăng″ -> Cảm giác huyền ảo.

→Cảnh đẹp như trong cõi mộng.

– Câu hỏi tu từ ẩn chứa một nỗi mong chờ tha thiết, đồng thời cũng chứa đầy nỗi phấp phỏng hoài nghi.

⇒Không gian mênh mông có đủ cả gió, mây, sông, trăng, hoa, cảnh đẹp nhưng buồn, cô đơn vô hạn.


Câu 3 (trang 39 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Tâm trạng của nhà thơ qua khổ thơ cuối:

+ Thiết tha hướng về người thôn Vĩ nhưng cảm thấy xa vời, khó tiếp cận.

+ Điệp ngữ “khách đường xa” đó là khoảng cách trong tâm tưởng nhà thơ, khoảng cách của hai thế giới. Đối với Hàn Mặc Tử, Huế và Quy Nhơn là hai thế giới cách biệt).

+ Các từ: Xa, trắng quá, sương khó, mờ, ảnh… càng tăng cảm giác khó nắm bắt.

+ Chỉ còn biết mơ tưởng: hư ảo của sương khói Huế, màu áo dài cũng thấp thoáng, mờ ảo.

+ Lòng đầy hoài nghi (Làm sao biết “tình ai có đậm đà”).

→ Chân dung nội tâm của tác giả: xót xa, cô đơn, trống vắng và khao khát yêu thương, đồng cảm.

Câu 4 (trang 39 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

– Tứ thơ: Mở đầu là niềm vui say, chuyển sang buồn bã, khắc khoải, cuối cùng là sự hoài nghi. Tất cả trạng thái tâm hồn đó đều xuất phát từ lòng yêu đời, niềm thiết tha với cuộc sống và tình yêu của một số phận bất hạnh.

– Bút pháp tả thực, lãng mạn, tượng trưng, trữ tình.

Luyện tập

Câu 1 (trang 40 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Bài thơ có ba câu hỏi tu từ:

– Khổ 1: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?: là lời trách móc nhẹ nhàng của một cô gái thôn Vĩ.

– Khổ 2: Có trở trăng về kịp tối nay?: bộc lộ cái nhìn tha thiết với thiên nhiên, con người.

– Khổ 3: Ai biết tình ai có đậm đà?: có hai cách hiểu

+ Không biết tình người xứ Huế có đậm đà không hay cũng mờ ảo và chóng tan như sương khói

+ Người xứ Huế có biết chăng tình cảm thắm thiết, sâu nặng của nhà thơ đối với cảnh vật và con người xứ Huế.

⇒Kiểu đặt câu hỏi không có lời đáp vừa như khẳng định vừa thể hiện khát vọng được chia sẻ. Các câu hỏi bộc lộ niềm yêu đời, yêu người tha thiết nhưng tất cả đều đã xa vời.


Câu 2 (trang 40 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

– Bài thơ được Hàn Mặc Tử sáng tác trong hoàn cảnh khi nhà thơ bị bệnh tật giày vò, nỗi ám ảnh về cái chết.

– Điều đó khiến người ta thương xót, cảm thông với số phận của tác giả, thêm cảm phục nghị lực, tài năng của Hàn Mặc Tử

– Do vậy bài thơ thể hiện nỗi buồn, niềm khao khát của một con người tha thiết yêu đời, yêu thiên nhiên, yêu con người.

Câu 3* (trang 40 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Bài thơ viết về tình yêu và tình quê. Hai tình cảm này có trong từng khổ thơ mang mức độ khác nhau.

– Đây thôn Vĩ Dạ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử dành cho người con gái gốc Vĩ Dạ – Hoàng Cúc. Do đó, Đây thôn Vĩ Dạ trước hết là một bài thơ về tình yêu.

– Bài thơ này làm hiện lên những vẻ đẹp về cảnh và người xứ Huế qua đó cho thấy được tình yêu thiết tha, đằm thắm của tác giả đối với quê hương đất nước vơi nỗi nhớ mong, khắc khoải, hoài nghi, vô vọng.

Bài soạn “Đây thôn Vĩ Dạ” số 6

I. Đôi nét về tác giả Hàn Mặc Tử
– Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí
– Ông sinh ra trong một gia đình trí thức nghèo theo đạo thiên chúa, từng làm công chức ở Bình Định sau ra Sài Gòn làm báo
– Năm 1936, mắc bệnh phong, ông về Quy Nhơn chữa bệnh và mất ở trại phong Quy Hòa
– Các tác phẩm chính:
+ thơ: Gái quê, Thơ điên, Xuân như ý, Thượng thanh khí,Cẩm châu duyên
+ kịch thơ: Duyên kì ngộ, Quần tiên hội
+ thơ văn xuôi: Chơi giữa mùa trăng
– Phong cách nghệ thuật:
+ là nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào thơ mới
+ diện mạo thơ ông hết sức phức tạp và đầy bí ẩn, thấm đượm một tình yêu đau đớn hướng về cuộc đời trần thế
+ thơ ông hướng nội, khuynh hướng quay vào nội tâm, ít kể tả theo cái nhìn của con mắt

II. Đôi nét về tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)
1. Hoàn cảnh sáng tác
– Sáng tác năm 1938 in trong tập Thơ điên về sau đổi thành Đau thương
– Bài thơ được gợi cảm hứng từ tấm ảnh về phong cảnh Huế và lời hỏi thăm của Hoàng Cúc- người mà Hàm Mặc Tử ôm ấp mối tình đơn phương khi còn làm ở sở Đạc Điền
2. Bố cục
– Đoạn 1: vườn Vĩ Dạ lúc ban mai trong tâm tưởng thi sĩ
– Đoạn 2: cảnh sông nước xứ Huế đêm trăng và tâm trạng thi sĩ
– Đoạn 3: hình bóng khách đường xa và nỗi niềm mơ tưởng, hoài nghi
3. Giá trị nội dung
– Bài thơ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người
4. Giá trị nghệ thuật
– Hình ảnh biểu hiện nội tâm, bút pháp gợi tả, ngôn ngữ tinh tế, giàu sức liên tưởng


Bài tập 1: Phân tích nét đẹp của phong cảnh và tâm trạng của tác giả trong khổ thơ đầu.

Trả lời

Câu thơ mở đầu “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” là câu hỏi mà thực ra là lời trách móc nhẹ nhàng và cũng là lời mời gọi tha thiết của cô gái thôn Vĩ với nhà thơ.Hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên” ở thôn Vĩ mang một vẻ đẹp lấp lánh, tinh khiết. Được nhìn nắng mới, trên những lá cau non là khoảnh khắc khó quên. Cảnh vườn “mướt”, “xanh như ngọc” cũng là một nét độc đáo của những khu biệt thự nhà vườn thôn Vĩ. Từ “mướt” gợi sự tươi non, sạch sẽ, láng bóng của từng chiếc lá dưới ánh mặt trời. Trong khi đó, hình ảnh so sánh “xanh như ngọc” gợi hình dung về những tán cây xanh mướt, mượt mà được ánh nắng mặt trời rực rỡ buổi sớm mai chiếu xuyên qua ánh lên màu xanh trong suốt như màu ngọc.Trong ba câu thơ đầu, con người chưa xuất hiện. Đến câu thơ thứ tư, sự xuất hiện ấy cũng không trọn vẹn. Nó ngượng ngùng, e ấp: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Khuôn mặt chữ điền phúc hậu càng có ấn tượng trong sự kín đáo, duyên dáng.


Bài tập 2:
Hình ảnh gió, mây, sông, trăng trong khổ thơ thứ hai gợi cảm xúc gì?

Trả lời

gợi nên sự êm đềm, nhẹ nhàng của Huế mộng mơ. Hình ảnh gió và mây trong tự nhiên thường đi liền với nhau, tuy nhiên ở đây lại có cảm giác chia lìa mỗi thứ một hướng. Dòng nước đìu hiu, êm đềm lặng lẽ trôi chứ không ồn ào sông nước. Hình ảnh thuyền và trăng tạo sự lung linh, huyền ảo cho bức tranh thiên nhiên êm đềm trong hai câu thơ đầu.Câu hỏi tu từ cuối khổ 2 như thể hiện nỗi mong ngóng, hi vọng ai đó sẽ về cùng đó thể hiện nỗi đau khổ tuyệt vọng của nhân vật.


Bài tập 3
: Ở khổ thơ thứ ba, nhà thơ bộc lộ tâm sự của mình như thế nào? Chút hoài nghi trong câu thơ “Ai biết tình ai có đậm đà?” có biểu hiện niềm tha thiết với cuộc đời không? Vì sao?

Trả lời

Trong khổ thơ thứ ba này, nhà thơ trực tiếp nói đến tình người xứ Huế khác với hai khổ thơ trên, đây chính là tâm trạng bộc bạch tác giả. Nhà thơ rất muốn về xứ Huế nhưng không thể về được. cuối đoạn thơ một câu hỏi tu từ nữa “Ai biết tình ai có đậm đà?” thể hiện sự hoài nghi của tác giả: nếu như tác giả một lòng hướng về xứ Huế thì không biết con người nơi đây có nhớ đến mình hay không? Dù hiểu theo nghĩa nào thì câu thơ cũng chỉ làm tăng thêm nỗi cô đơn, trống vắng trong một tâm hồn tha thiết yêu thương con người và cuộc đời.


Bài tập 4:
Có gì đáng chú ý trong tứ thơ và bút pháp của bài thơ?

Trả lời

Ở bài thơ này, tứ thơ bắt đầu với cảnh đẹp thôn Vĩ bên dòng sông Hương, từ đó khơi gợi liên tưởng thực – ảo và mở ra bao nhiêu nỗi niềm cảm xúc, suy tư về cảnh và người xứ Huế với phấp phỏng những mặc cảm, uẩn khúc, niềm hi vọng, niềm tin yêu.Bút pháp của nhà thơ sử dụng trong bài thơ này kết hợp hài hoà điệu tả thực, tượng trưng, lãng mạn và trữ tình.


Luyện tập

Bài tập 1: Những câu hỏi trong bài thơ hướng tới ai và có tác dụng gì trong việc biểu hiện tâm trạng của tác giả?

Trả lời

Những câu hỏi trong bài thơ không hướng tới một đối tượng cụ thể nào. Những câu hỏi này có tác dụng bày tỏ thái độ, nỗi niềm, cảm xúc của tác giả.


Bài tập 2
: Hoàn cảnh sáng tác và nội dung bài thơ gợi cho anh (chị) cảm nghĩ gì?

Trả lời

Hoàn cảnh và nội dung bài thơ khiến ta thêm thương xót và cảm thông với số phận của tác giả, thêm cảm phục một con người đầy tài năng và nghị lực, con người đã dũng cảm vượt lên trên hoàn cảnh nghiệt ngã để sáng tác ra những vần thơ tài hoa về tình đời, tình người.


Bài tập 3
: Đây là bài thơ nói về tình yêu hay tình quê? Vì sao bài thơ diễn tả tâm trạng riêng của nhà thơ lại tạo được sự cộng hưởng rộng rãi và lâu bền trong tâm hồn các thế hệ bạn đọc?

Trả lời

Bài thơ này là bài thơ về tình yêu thể hiện tình yêu của tác giả và Hoàng Thị Kim Cúc, tình yêu nhẹ nhàng thầm kín của hai người. Tuy nhiên qua tình yêu cá nhân cũng có thể thấy hiện lên tình yêu quê hương đất nước.Nhờ những tình cảm hết sức chân thực, cùng với những hình ảnh giàu sức lay động, bài thơ đã đi vào lòng thế hệ nhiều bạn đọc.

Bài soạn “Đây thôn Vĩ Dạ” số 2

I. Về tác giả, tác phẩm

1. Tác giả

Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí, sinh ra ở làng Lệ Mĩ, tổng Võ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Đồng Hới (nay là tỉnh Quảng Bình) trong một gia đình viên chức theo đạo Thiên Chúa.

Tuy cuộc đời có nhiều bi thương nhưng Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ trong phong trào Thơ mới.

Tác phẩm chính: Gái quê (1936), Thơ Điên (1938), Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, Duyên kì ngộ (kịch thơ – 1939)…

2. Đây thôn Vĩ Dạ (lúc đầu có tên Ở đây thôn Vĩ Dạ) sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ Điên (sau đổi thành Đau thương). Theo một số tài liệu, bài thơ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái vốn quê ở Vĩ Dạ, một thôn nhỏ bên dòng sống Hương nơi xứ Huế mộng mơ.

Bố cục: 3 phần

+ Đoạn 1 (khổ 1): Khung cảnh thôn Vĩ buổi bình minh và tình người tha thiết

+ Đoạn 3 (khổ 2): Khung cảnh thôn Vĩ với dòng sông trăng và niềm đau cô lẻ, chia lìa

+ Đoạn 3 (khổ 3): Vẻ đẹp huyền ảo xứ Huế và nỗi niềm tác giả

Đọc hiểu văn bản

Câu 1 (trang 39 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Nét đẹp phong cảnh và tâm trạng của tác giả trong khổ thơ đầu:

Mở đầu bài thơ là câu hỏi tu từ Sao anh không về chơi thôn Vĩ nhưng thực ra là một lời trách móc nhẹ nhàng và cũng là lời mời gọi tha thiết của cô gái thôn Vĩ với nhà thơ.

Cảnh nơi thôn Vĩ:

– Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên:

+ Điệp từ nắng nhấn mạnh ánh nắng của buổi bình minh.

+ Nắng hàng cau nắng mới lên: gợi ánh nắng ấm áp trong trẻo và tinh khôi của buổi sớm mai.

– Vườn ai mướt quá xanh như ngọc:

+ Vườn ai: đại từ phiếm chỉ “ai” gợi cảm giác mơ hồ, bất định trong tâm hồn thi nhân.

+ Mướt quá: gợi sự tươi non, mượt mà của khu vườn thôn Vĩ.

+ Xanh như ngọc: nghệ thuật so sánh diễn tả sự xanh mướt được ánh nắng mặt trời của buổi sớm mai chiếu xuyên qua làm bừng sáng cả khu vườn nơi thôn Vĩ.

=> Thiên nhiên thôn Vĩ buổi sớm mai đẹp thanh khiết, trong trẻo, thơ mộng và tràn trề sức sống.

– Con người nơi thôn Vĩ: Lá trúc che ngang mặt chữ điền:

+ Mặt chữ điền: là biểu tượng của nét đẹp phúc hậu, hiền lành, trung thực.

+ Lá trúc che ngang: lá trúc mảnh mai, gợi nét đẹp kín đáo, phúc hậu, dịu dàng của con người xứ Huế.

=> Câu thơ có sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người trong vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng.

Bốn câu thơ vẽ nên một bức tranh thiên nhiên thơ mộng, con người mang vẻ đẹp kín đáo dịu dàng. Qua đó cũng bộc lộ tình yêu thiên nhiên, yêu người tha thiết cùng những niềm băn khoăn, day dứt của nhà thơ.


Câu 2 (trang 39 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Hình ảnh gió, mây, sông, trăng trong khổ thơ thứ hai:

– Không gian mênh mông có đủ gió, mây, sông, nước, trăng, hoa.

– Gió theo lối gió mây đường mây: cách ngắt nhịp 4/3 gợi tả không gian gió mây chia lìa như một nghịch cảnh đầy ám ảnh của sự chia lìa, xa cách.

– Dòng nước buồn thiu: nghệ thuật nhân hóa dòng sông trở thành một sinh thể mang tâm trạng gợi cảm giác u buồn. Dòng sông không thể tự buồn mà nhà thơ đã gửi nỗi buồn vào dòng sông.

– Hoa bắp lay: sự chuyển động rất nhẹ, “lay” gợi nỗi buồn hiu hắt, thưa vắng.

→ Cảnh vật được nội tâm hóa bộc lộ nỗi đau thân phận, sự chia lìa xa cách.

– Thyền ai đậu bến sông trăng đó:

+ Sông trăng: hình ảnh đẹp, đầy thi vị. Dòng sông tràn ngập ánh trăng vàng. Con thuyền vốn là hình ảnh có thực được nhìn qua con mắt của thi nhân trở thành một hình ảnh mộng tưởng. Thuyền đậu trên bến sông trăng để trở trăng về một nơi nào đó trong mơ.

+ Đại từ phiếm chỉ “ai” gợi cảm giác mơ hồ, xa lạ, đầy ảo mộng.

– Có trở trăng về kịp tối nay? : câu hỏi tu từ thảng thốt, băn khoăn, có gì đó khắc khoải, khẩn thiết. Chữ kịp khiến cho khoảng thời gian “tối nay” càng trở nên ngắn ngủi. Ta cảm nhận được sự lo sợ, một mặc cảm về hiện tại ngắn ngủi, hé mở cho ta thấy chủ thể như muốn chạy đua với thời gian.

=> Khổ thơ thứ hai đã vẽ nên một bức tranh sông Hương nên thơ, huyền ảo, phảng phất tâm trạng u buồn, cô đơn của nhà thơ. Khổ thơ đã gieo vào lòng người đọc sự cảm thông sâu sắc trước niềm đau của thi nhân.

Câu 3 (trang 39 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Tâm trạng của nhà thơ qua khổ thơ cuối:

– Mơ khách đường xa khách đường xa:

+ Mơ: trạng thái vô thức, nhà thơ đang đắm chìm trong cõi mộng.

+ Điệp ngữ “khách đường xa”: nhấn mạnh khoảng cách xa rời, chỉ là khách trong mơ.

→ Nhấn mạnh nỗi xót xa của nhà thơ.

– Áo em trắng quá nhìn không ra: từ “quá” diễn tả sự choáng ngợp, thảng thốt; “nhìn không ra” cực tả sắc trắng, trắng một cách kì lạ, bất ngờ. Đây không còn là màu sắc thực nữa mà là màu trong tâm tưởng.

– Ở đây sương khói mờ nhân ảnh: câu thơ có thể hiểu theo hai nghĩa.

+ Về nghĩa thực, xứ Huế nắng nhiều, mưa nhiều nên nhiều sương khói và sương khói làm tăng thêm vẻ hư ảo, mộng mơ của xứ Huế.

+ Về nghĩa bóng, sương khói làm mờ ảo cả bóng người hay chính là tượng trưng cho một mối tình mong manh, xa vời, không trọn vẹn.

– Ai biết tình ai có đậm đà: đại từ phiếm chỉ “ai” mở ra hai lớp nghĩa:

+ Nhà thơ làm sao biết tình người xứ Huế có đậm đà với mình hay không hay cũng mờ ảo như làn khói kia.

+ Người xứ Huế có biết chăng tình cảm của nhà thơ với cảnh Huế, người Huế hết sức đậm đà, thắm thiết.

→ Câu thơ thể hiện nỗi cô đơn, trống vắng trong một tâm hồn tha thiết yêu thương con người và cuộc đời đã nhuốm màu đau thương, bất hạnh.

Câu 4 (trang 39 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Về tứ thơ và bút pháp của bài thơ

– Về tứ thơ: Ở bài thơ, tứ thơ bắt đầu với cảnh đẹp nơi thôn Vĩ bên sông Hương, từ đó khơi gợi liên tưởng thực – ảo và mở ra cảm xúc, suy tư về cảnh và người xứ Huế.

– Bút pháp của bài thơ: kết hợp hài hòa giữa tả thực, tượng trưng, lãng mạn và trữ tình.

Luyện tập

Câu 1 (trang 40 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Bài thơ có ba câu hỏi tu từ:

– Khổ 1: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

– Khổ 2: Có trở trăng về kịp tối nay?

– Khổ 3: Ai biết tình ai có đậm đà?

Những câu hỏi trên không hướng tới một đối tượng nào cụ thể mà chỉ là hình thức hỏi để bày tỏ nỗi niềm tâm trạng của tác giả.

Câu 2 (trang 40 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Bài thơ được Hàn Mặc Tử sáng tác trong hoàn cảnh khi nhà thơ bị bệnh tật giày vò, nỗi ám ảnh về cái chết. Do vậy bài thơ thể hiện nỗi buồn, niềm khao khát của một con người tha thiết yêu đời, yêu thiên nhiên, yêu con người.

Câu 3 (trang 40 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Đây thôn Vĩ Dạ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử dành cho người con gái gốc Vĩ Dạ – Hoàng Cúc. Do đó, Đây thôn Vĩ Dạ trước hết là một bài thơ về tình yêu. Tuy nhiên vượt lên cảm hứng đó, bài thơ vẽ nên một tranh tuyệt bích về cảnh và người nơi Xứ Huế. Qua đó thấy được tình yêu thiết tha của tác giả đối với quê hương đất nước.

Việc khơi gợi lên tình cảm yêu thương chung của nhiều người như thế, bài thơ đã diễn tả tâm trạng riêng của tác giả lại tạo được sự cộng hưởng rộng rãi và bền lâu trong tâm hồn của bao thế hệ người đọc.

Bài soạn “Đây thôn Vĩ Dạ” số 5

I. TÁC GIẢ

Hàn Mặc Tử (1912-1940), tên thật là Nguyễn Trọng Trí, quê ở Quảng Bình, xuất thân trong một gia đình Công giáo nghèo, cha mất sớm, mới 16 tuổi đã làm thơ. Ông có học ở Huế, sống nhiều ở Quy Nhơn, sau làm viên chức, rồi vào Sài Gòn làm báo. Năm 1936, Hàn Mặc Tử bị mắc bệnh phong. Căn bệnh hiểm nghèo này đã đày đọa về thể xác lẫn tinh thần nhà thơ suốt ba năm, cho tới khi ông mất.

Chỉ với mười năm cầm bút, Hàn Mặc Tử đã đóng góp cho đời nhiều tập thơ và kịch thơ.

Sách Văn 11 nhận định Hàn Mặc Tử có một “hồn thơ mãnh liệt nhưng luôn quằn quại đau đớn, dường như có một cuộc vật lộn và giằng xé dữ dội giữa linh hồn và thể xác”.

Đúng là thế giới thơ của ông được hình thành bởi hai mảng thơ:

– Một là các bài thơ bình dị, trong trẻo sản phẩm của một tâm hồn yêu quê hương, yêu sự sống của con người và tạo vật. Đây thôn Vĩ Dạ, Mùa xuân chín, Tình quê… nằm trong nguồn mạch này với cảm xúc trong sáng, dịu buồn làm rung động lòng người và có sức gợi cảm khá sâu sắc.

– Hai là các bài thơ điên loạn rùng rợn, huyền bí biểu lộ một nỗi đau thương thất vọng, những cơn giày vò và đau đớn của nhà thơ do bệnh tật.

II. HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA BÀI THƠ

Trong thời kì làm nhân viên Sở Đạc điền ở Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử có quen biết một thiếu nữ tên là Hoàng Cúc, quê ở Huế. Sau đó, nhà thơ vào Sài Gòn làm báo để kiếm sống. Đến khi trở lại Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử biết mình mắc bệnh thì Hoàng Cúc đã cùng gia đình về sống ở thôn Vĩ Dạ, Huế. Bỗng một hôm, Hoàng Cúc gửi cho Hàn Mặc Tử một tấm bưu thiếp in phong cảnh có mây, có nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống mặt nước với lời thăm hỏi sức khỏe nhà thơ mà không kí tên.

Chính bức bưu ảnh này và những dòng chữ của Hoàng Cúc đã khơi nguồn cảm hứng cho Hàn Mặc Tử viết bài Đây thôn Vĩ Dạ.

Nhà thơ đã gửi thư hồi âm Hoàng Cúc kèm theo bài thơ trên với câu: “Có nhận được bức ảnh bến Vĩ Dạ lúc hừng đông hay là một đêm trăng?”.

Cần lưu ý là Hàn Mặc Tử viết bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ khi đã biết mình bị bệnh nan y. Bài thơ này trích từ tập thơ Đau thương (Thơ điền).

III. CHỦ ĐỀ

Bài thơ là những bức tranh kỉ niệm đẹp và thơ mộng về thôn Vĩ Dạ hàm ẩn một mối tình kín đáo, sáng trong và ý nhị.

IV. PHÂN TÍCH

Đây thôn Vĩ Dạ gồm 3 khổ thơ thất ngôn. Mới đọc tưởng như đó là 3 bài thơ tứ tuyệt hoàn toàn độc lập chẳng chút quan hệ gì với nhau. Nhưng thật ra không phải thế. Ba khổ thơ ấy liên thông chặt chẽ với nhau bởi cái mạch ngầm cảm xúc của nhà thơ.

Ba khổ thơ vẽ lên ba bức tranh:

1. Khổ 1: Cảnh vườn cây trong nắng mai:

Mở đầu là một câu hỏi:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Câu hỏi bằng thơ thật tự nhiên như câu nói, một lời trách cứ, nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng cũng là một lời mời gọi da diết, ẩn chứa một tình cảm đằm thắm, dịu dàng, có chút ngạc nhiên mà cũng có một chút gì tiếc nuối. Câu hỏi đó của cô gái thôn Vĩ hay của chính nhà thơ. Dù là của ai thì câu hỏi ấy cũng đã khơi gợi làm sống dậy những kỉ niệm với những đường nét của cảnh vườn cây thôn Vĩ trong nắng mai:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Trước ánh nắng ban mai “nắng mới lên”, cảnh vật thôn Vĩ Dạ bừng sáng lên thật đẹp. Chỉ là đôi nét chấm phá chọn lọc từ hồi ức của nhà thơ mà thanh tân, đặc sắc và đầy ấn tượng đến thế! Từ cảnh hàng cau thẳng đứng, vươn lên lấp loáng nắng mai đến cảnh vườn cây lá mướt xanh như ngọc, một màu xanh mơn mởn, tinh khôi ngỡ như trong suốt. Khung cảnh tuyệt vời ấy làm nền để thấp thoáng hiện ra sau lá trúc một hình ảnh dịu dàng, phúc hậu của khuôn mặt người vuông chữ điền nửa hư nửa thực. Chữ ai đại từ phiếm chỉ được sử dụng trong câu 3 nghe vừa thân mến, vừa xa vắng, bâng quơ vừa mang vẻ kín đáo lại vừa hàm ẩn được tình ý riêng của tác giả. Hai câu thơ sau làm nên một vẻ đẹp mơ hồ hư ảo, như có, như không, khi ẩn, khi hiện, một nét duyên e ấp nên thơ trong khu vườn cổ kính của cô gái Huế.

2. Khổ 2: Cảnh sông Hương:

Bốn câu thơ khổ này tiếp tục dòng hồi ức của nhà thơ. Cảnh sông Hương xuất hiện với gió, với mây, với hoa bắp lay và dòng nước buồn thiu:

Gió theo lối gió, mây đường mây.

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.

Làn gió ở đây thổi rất nhẹ không đủ sức để cuốn mây trôi, không đủ sức để làm cho nước gợn, bởi thế dòng nước lặng lờ như không buồn chảy. Nhưng gió cũng chỉ đủ để khiến hoa bắp vật vờ lay động gợn một nỗi buồn hiu hắt. Cảnh vật êm đềm, không gian vắng lặng mơ buồn… vẫn là những gió, trăng, mây, nước, thông thường thì gió cuốn mây bay chuyển đi cùng một hướng, nhưng ở đây, tất cả đều rời rã, chia đường: “Gió theo lối gió – mây đường mây”. Cách cảm nhận cảnh vật như thế như thể hiện được một nỗi buồn chất chứa trong tâm hồn thi nhân. Phải chăng đó là một nỗi buồn ngăn cách của một mối tình vô vọng đơn phương.

Trong khung cảnh tĩnh lặng vừa nói, hình ảnh một con thuyền đầy trăng cũng đủ tạo nên đôi bờ thực hư huyền ảo của bến sông trăng:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Cái không gian bát ngát trăng là cõi mộng. Trong thế giới ấy, sông trở thành sông trăng, ở đó thuyền “chở trăng về” như chở một du khách trên dòng sông Hương thơ mộng – Hai câu thơ là một câu hỏi bất chợt vọng lên. Bộc lộ một nỗi ước mong tha thiết bàng bạc chút gì lo sợ hoài nghi. Phải chăng trong khoảnh khắc tưởng nhớ mơ màng, Hàn Mặc Tử tha thiết muốn gặp lại vầng trăng tri kỉ độ nào? Gặp lại vầng trăng hay gặp lại người cũ mà niềm hi vọng lại quá mong manh và nỗi ước mong lại càng tha thiết đến như thế: “Có chở trăng về kịp tối nay?”.

Khổ 3: Người cũ nơi thôn Vĩ:

Đến đây, thi nhân như lặng đi trong cảnh mộng và như đang đối thoại người cũ trong mơ thiết tha và gấp gáp:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra.

Hình ảnh người cũ mờ ảo vì là “khách đường xa” và “nhìn không ra” nhưng hoàn toàn là có thực với cảm nhận của thi nhân: “áo em trắng quá”. Hai câu thơ hướng tới người đang xa cách mà mình nặng lòng khao khát nhớ mong. Cái màu áo trắng trinh nguyên tinh khiết tuy làm người ấy thêm trang trọng nhưng cũng càng trở nên xa cách hơn. Hai câu cuối, nhà thơ trở lại với chính bản thân mình, với một mối tình đơn phương nhuốm đầy màu sắc đau thương tuyệt vọng:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Hai câu thơ lại lửng lơ khó hiểu. Ở đây là ở đâu: Tình ai là tình anh hay tình em? “Em” thì xa vời quá. Sương khói đã che khuất bóng người (sương khói mờ nhân ảnh). Còn “anh” thì đã biết mình mắc bệnh hiểm nghèo. Một bên là cõi sống non tơ và tình thơ hé mở. Một bên là nỗi cô đơn, bệnh tật với cõi hư vô đang ám ảnh giày vò. Trong tình huống ấy, câu thơ cuối không chỉ là một câu hỏi không lời đáp mà còn là tiếng kêu tuyệt vọng đớn đau. “Ai biết tình ai có đậm đà?” Hai phiếm chỉ đại từ “ai” cùng tô đậm thêm tính đa nghĩa cho câu thơ và nhất là đã khơi gợi lên một nỗi niềm u ẩn, mênh mang và sâu lắng trong lòng thi nhân. Câu thơ như thể để trả lời cho câu hỏi: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” ở đầu bài. Phải chăng?

GỢI Ý THÊM

Câu 1. Những kỉ niệm đẹp, thơ mộng về thôn Vĩ Dạ, về Huế được diễn tả qua tâm hồn thơ mộng và giàu tưởng tượng của nhà thơ Hàn Mặc Tử.

– Cảnh thôn Vĩ lúc hừng đông: cái ánh “nắng mới lên” tinh khôi trong trẻo chiếu sáng lấp loáng những hàng cau còn ướt đẫm sương đêm. Vườn cây tươi tốt, sum suê, màu lá mướt “xanh như ngọc” sinh động hẳn lên khi thấp thoáng sau lá trúc một khuôn mặt người vuông vức chữ điền phúc hậu.

– Cảnh sông Hương có mây gió chia lìa đôi ngả, có “hoa bắp lay” và “dòng nước buồn thiu…” gợi một nỗi sầu hiu hắt. Đặc biệt là có ánh trăng huyền ảo tràn ngập đất trời: một dòng sông trăng, một bến đò trăng và một con thuyền đầy trăng… như là trong mộng:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

– Vẻ đẹp tinh khiết của cô gái Huế, hình ảnh khách đường xa, một đối tượng trong mơ, đầy hư ảo: “Áo em trắng quá nhìn không ra”. Hình ảnh cô gái Vĩ Dạ ngày xưa với màu áo trắng quá như lẫn vào sương khói. Sương khói ở đây là sương khói của đất trời xứ Huế mộng mơ hay là sương khói của thời gian mờ xa và không gian vời vợi vây phủ lên một mối tình cũng xa xăm vô vọng.


Câu 2. Có một mối tình được gửi gắm trong bài thơ

Thấp thoáng trong Đây thôn Vĩ Dạ là một mốì tình kín đáo, trắng trong, sâu sắc và ý nhị (phải chăng là mối tình của thi sĩ với Hoàng Cúc?)

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.

Như mọi mối tình cao đẹp khác, mối tình này cũng chứa chan biết bao là nhớ nhung, vọng tưởng:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra.

Một mối tình đầy khắc khoải âu lo và trách móc

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Những hình ảnh, những cầu thơ hấp dẫn trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên?

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Ba câu thơ làm nên một hình ảnh mảnh vườn thôn Vĩ tinh khôi, thanh khiết, bình dị mà cao sang, với cây cối tốt tươi, cành lá non tơ mướt xanh như ngọc bích. Thấp thoáng đằng sau những khóm trúc, với những “lá trúc che ngang” là một khuôn mặt chữ điền phúc hậu. Ấy là một người thôn Vĩ hay khuôn mặt người trở về thôn Vĩ. Tất cả có thể là hình ảnh thực mà cũng có thể là một hình ảnh hư ảo đầy tưởng tượng của thi sĩ.

– Thuyền ai đậu bến sông trăng dó,

Có chở trăng về kịp tối nay?

Hai câu thơ tả dòng Hương Giang với nét đẹp lung linh huyền ảo. Sông trăng, thuyền chở trăng là cách nói mới mẻ đầy tài hoa của thi sĩ, miêu tả vẻ thơ mộng của đôi bờ thực hư sông nước bát ngát ánh trăng.

– Áo em trắng quá nhìn không ra.

“Nhìn không ra” là cụm từ cực tả sắc trắng của áo em. Áo em trắng kì lạ, trắng đến bất ngờ. Sắc trắng của áo người khách đường xa là vẻ đẹp tinh khiết đậm nét nhất rạng rỡ nhất trong bài thơ mà cũng gây tuyệt vọng nhất cho thi sĩ. Phải chăng?

Nhìn chung, Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử là một bài thơ toàn bích. Trong bài thơ toàn bích ấy, những hình ảnh, những câu thơ trên là nổi bật và gây ấn tượng mãnh liệt nhất.

About