Top 9 Căn bệnh phổ biến nhất trong chiến tranh thế giới thứ nhất

Ở thời điểm nào, bệnh tật cũng có thể cướp đi sinh mạng của rất nhiều người. Trong chiến thanh thế giới thứ nhất, thứ cướp đi sinh mạng con người không đơn thuần là sung đạn mà còn bởi các loại bệnh phổ biến. Cùng danh sách tìm hiểu những căn bệnh này nhé!

Thương hàn và sốt phát ban

Về mức độ phổ biến, xếp ngay sau sốt rét chính là bệnh thương hàn và sốt phát ban. Hai căn bệnh này mặc dù không còn được nhắc đến nhiều ở thời hiện đại tuy nhiên trong thế chiến I, nó đã khiến không ít binh lính ám ảnh bởi mức độ nguy hiểm của nó.

Nhiều người vẫn lầm tưởng thương hàn và sốt phát ban là một, nhưng thực tế, những căn bệnh này không hề giống nhau. Sốt thương hàn là một bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn Salmonella typhi gây ra và nó là một trong những căn bệnh gây ra tử vong nhanh nhất, nhiều nhất nhất trong Thế chiến thứ nhất. Các triệu chứng của nó bao gồm đổ mồ hôi, tiêu chảy và nhiệt độ cao. Những người bị sốt thương hàn sẽ mất nước cực độ và phải chịu đựng những cơn đau dữ dội.

Trong khi đó, bệnh sốt phát ban, còn được gọi là sốt gaol hoặc sốt tàu, được truyền giữa các binh lính qua loài rận trên cơ thể có tên là Pediculus humanus. Bệnh phát sinh do vệ sinh không tốt. Trong chiến tranh, một số lượng lớn người chết đã xảy ra vì sốt phát ban và vì không có thuốc kháng sinh, tỷ lệ tử vong thay đổi từ 10 đến 80 phần trăm.

Bệnh cúm

Cúm là một căn bệnh tàn khốc, được nhiều người ví như thần chết khi nó khiến nhiều người chết hơn súng đạn trong chiến tranh. Người ta còn gọi nó là bệnh Cúm Tây Ban Nha hay La Grippe. Bệnh cúm Tây Ban Nha xuất phát điểm là một trận dịch lớn ngay sau cuộc chiến năm 1918, sau đó lan rộng khắp châu Âu. Trẻ em và những người trong độ tuổi từ 20 đến 40 là những đối tượng dễ bị nhiễm bệnh nhất. Việc ăn uống thiếu chất, vệ sinh kém và môi trường ô nhiễm đã khiến bệnh dịch nhanh chóng lây lan và khiến nhiều người không thể cứu chữa.

Những người mắc cúm Tây Ban Nha sẽ phát triển một loại viêm phổi chết người kèm theo một số triệu chứng như sẽ bị đau đầu, đau nhức cơ bắp, ho khan dai dẳng, sốt, suy nhược, đau họng và nhiễm độc máu. Một khi ai đó bị nhiễm bệnh, họ thường sẽ chết trong vòng ba ngày trong tình trạng đau đớn dữ dội và cơ thể bị sưng tấy.

Bệnh lao

Bệnh lao là một căn bệnh quái ác đã giết chết nhiều người trong chiến tranh. Nó được gây ra bởi một loại vi khuẩn sinh sản chậm có tên là Mycobacterium tuberculosis. Có hai giai đoạn dẫn đến bệnh lao: giai đoạn chính và giai đoạn thứ phát. Ở giai đoạn thứ nhất, khi được chẩn đoán có bệnh thì họ được xếp vào loại suy phổi. Trong khi đó, các triệu chứng của giai đoạn thứ phát bao gồm ho, khạc ra máu, sụt cân và nhiệt độ cao. Một người mắc bệnh lao giai đoạn thứ hai sẽ được tổ chức để ngăn họ lây bệnh cho các thành viên trong gia đình, bạn bè hoặc bất kỳ ai mà họ tiếp xúc. Bởi tại thời điểm đó chưa có loại thuốc nào hiệu quả để điều trị bệnh.

Mặc dù căn bệnh này dần dần biến mất, nhưng nó đã để lại những vết sẹo về thể chất và tinh thần cho những người nhiễm bệnh. Nghiên cứu y tế sau đó đã giúp phát triển vắc-xin và ngăn chặn sự bùng phát của bệnh lao trong các cuộc chiến tranh sau đó.

Bệnh hoa liễu

Bệnh hoa liễu là một trong những căn bệnh được xếp vào hàng phổ biến trong triến tranh thế giới. Căn bệnh này chủ yếu xuất phát từ việc quan hệ tình dục không an toàn gây ra nhiễm trùng. Số lượng các ca nhiễm trùng này đã tăng lên ồ ạt và nhanh chóng lây lan trong quân đội khiến khả năng chiến đấu của binh lính ngày càng suy giảm. Ở thời điểm đó, việc chữa bệnh hoa liễu rất tốn kém, mất nhiều thời gian và phần lớn không hiệu quả. Nhiều quốc gia sau khi phát hiện số ca bệnh tăng cao đã đưa ra các chính sách y tế nghiêm ngặt và thực hiện kiểm tra y tế đối với binh lính và gái mại dâm để hạn chế căn bệnh này.

Bệnh sốc vỏ

Vào cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất, chỉ riêng Quân đội Anh đã chứng kiến hơn 80.000 trường hợp bị chấn động bởi đạn pháo. Sốc đạn pháo là một thuật ngữ để mô tả những người lính bị căng thẳng sau chấn thương tâm lý trong chiến tranh. Các triệu chứng của nó bao gồm mất ngủ, không thể đi lại hoặc nói chuyện và các cơn hoảng loạn. Vào thời kỳ đầu của chiến tranh, tình trạng sốc đạn pháo là tương đối hiếm. Tuy nhiên, khi chiến tranh tiến triển, số ca mắc bệnh ngày càng nhiều và các bác sĩ không thể xác định được nguyên nhân chính xác của tình trạng rối loạn. Có suy đoán rằng vụ nổ của bom đã gây ra sóng xung kích trong não của các binh sĩ. Ngoài ra, người ta tin rằng carbon monoxide từ các vụ nổ đã làm hỏng mô não.

Những bệnh nhân có dấu hiệu bị sốc vỏ được coi là những kẻ hèn nhát, nhưng khi số ca sốc vỏ tăng lên, mọi người đã cố gắng tìm ra giải pháp cho vấn đề. Câu trả lời là quy định cho người lính bị ảnh hưởng nghỉ ngơi một vài ngày và các sĩ quan của họ được hướng dẫn để thảo luận vấn đề với họ, nói về cả cuộc chiến và gia đình của họ ở quê nhà. Trong những trường hợp nghiêm trọng, những người bị nạn đã được đưa đến các trạm thu dọn thương vong trong nhiều tuần. Nếu họ vẫn không hồi phục thì sẽ trải qua một số vòng quan sát nữa cho đến khi sẵn sàng chiến đấu trở lại.

Bệnh chân rãnh

Chân rãnh – hay còn gọi là nhiễm trùng bàn chân là một căn bệnh phổ biến, cướp đi sinh mạng của nhiều người trong thế chiến thứ nhất.

Căn bệnh này khiến bàn chân của những người lính chuyển sang màu đỏ hoặc xanh lam. Hầu hết những người mắc bệnh này do tiếp xúc với môi trường ẩm ướt, lạnh giá và mất vệ sinh. Nếu tình trạng trở nên tồi tệ hơn sẽ khiến chân bị tê có thể dẫn đến hoại tử và thường phải cắt cụt chi.

Giải pháp duy nhất cho vấn đề này ở thời điểm đó là các binh sĩ có thể rửa vết thương bằng nước ấm, lau khô chân và thay tất nhiều lần trong ngày. Số lượng trường hợp mắc bệnh hôi chân đã tăng lên hơn 75.000 người trong Quân đội Anh và khoảng 2.000 binh lính trong Quân đội Hoa Kỳ. Nhưng những cải tiến về chất lượng ủng của binh lính đã làm giảm đáng kể những con số đó vào cuối chiến tranh.

Sốt rét

Sốt rét chính là căn bệnh phổ biến, không chỉ trong chiến tranh thế giới thứ nhất mà nó phổ biến trong cả thời kì hiện đại. Có thể bạn không biết, căn bệnh này chính là căn bệnh nguy hiểm bậc nhất, cướp đi nhiều sinh mạng nhất trong các cuộc chiến tranh xung đột, trong đó có chiến tranh thế giới thứ nhất.

Đã có rất nhiều binh lính và dân thường bị ảnh hưởng bởi bệnh sốt rét trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Những người trong độ tuổi từ 18 đến 48 phần lớn bị nhiễm bệnh và nhiều người đã chết vì căn bệnh này. Một số nguồn tin chỉ ra rằng quân đội Anh, Pháp và Áo-Hung cùng có hơn 20 triệu trường hợp và số người chết mỗi tháng trung bình lên đến 80.000 người .

Tình trạng thiếu thuốc men, các phương tiện điều trị và môi trường sống, chiến đấu không đảm bảo vệ sinh đã đã khiến bệnh sốt rét có cơ hội hoành hành và gần như không thể chấm dứt ở một vài thời điểm nhất định. Sau chiến tranh, tỷ lệ tử vong đã giảm khi quân đội được di chuyển từ các khu vực bị nhiễm bệnh đến các điều kiện sống an toàn và tốt hơn.

Bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường thường kết thúc bằng cái chết đối với nhiều người mắc phải, vì việc phát hiện ra insulin vẫn còn cách xa 20 năm nữa. Những người dân và binh lính mắc phải căn bệnh này đã phải tuân theo những chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt, hạn chế lượng thức ăn của họ ở một mức độ lớn. Không có cách chữa trị và cái chết sẽ đến ngay sau khi chẩn đoán.

Bệnh tim

Nhắc đến bệnh tim trong thế chiến, về cơ bản nó cũng có một số dấu hiệu như bệnh tim thời hiện đại. Tuy nhiên mức độ tử vong trong thế chiến cao hơn và nguy hiểm hơn ngày nay rất nhiều.

Ở chiến tranh thế giới thứ nhất, dị tật tim cực kỳ khó phát hiện và dường như không thể chẩn đoán. Trừ khi phát sinh ra dấu hiệu bên ngoài khi chịu ảnh hưởng bởi một số yếu tố như âm thanh quá lớn, đụng độ vũ trang, mùi thuốc súng,… gây áp lực lên tim. Thường trong thế chiến I, bệnh tim sẽ di truyền ở người lớn, làm hỏng 4 van chính của tim, gây đột quỵ.

Thông thường, những binh sĩ bị nghi ngờ có vấn đề về tim sẽ được cho xuất ngũ hoặc không được tham gia chiến đấu trên chiến trường.

About