Top 8 Lưu ý quan trọng nhất về bệnh lao phổi

Bệnh lao là một​ căn bệnh rất nguy hiểm, khi khởi phát bệnh hầu hết những người mắc bệnh thường không có triệu chứng gì rõ rệt để nhận biết và phòng bệnh chống lao phổi kịp thời. Bệnh lao phổi cũng là nguyên nhân gây tử vong rất cao tại các nước đang phát triển nhất là tại Việt Nam. Cùng danh sách tìm hiểu những lưu ý quan trọng nhất về căn bệnh này nhé!

Phòng bệnh lao phổi

Với người chưa mắc bệnh:

  • Tiêm phòng bệnh lao: Tiêm vắc xin phòng lao (BCG) cho trẻ ngay tháng đầu sau sinh trong Chương trình tiêm chủng mở rộng;
  • Sử dụng khẩu trang khi ra ngoài hoặc tiếp xúc với người mắc bệnh;
  • Che miệng khi hắt hơi và rửa tay sạch sẽ bằng xà phòng dưới vòi nước chảy, nhất là trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh;
  • Không sử dụng chung đồ dùng cá nhân với người mắc lao phổi;
  • Giữ vệ sinh nơi ở;
  • Khám sức khỏe định kỳ.

Đối với người mắc bệnh lao phổi:

  • Đeo khẩu trang, khi ho, hắt hơi phải che miệng, khạc đờm vào chỗ quy định, đờm hoặc các vật chứa nguồn lây bệnh phải được xử lý đúng phương pháp;
  • Tuân thủ điều trị;
  • Cần đi tái khám mỗi tháng 1 lần;
  • Tận dụng ánh nắng mặt trời cho nơi ở và các vật dụng của người bệnh vì vi khuẩn lao bị mất khả năng gây bệnh dưới ánh nắng mặt trời.

Bệnh lao phổi là căn bệnh nguy hiểm và dễ lây nhiễm. Để phòng tránh bệnh, bạn nên tiêm phòng lao đầy đủ ngay từ nhỏ.

Triệu chứng bệnh lao phổi

Thời kỳ ủ bệnh của bệnh lao phổi dài hay ngắn tùy thuộc vào sức đề kháng của người bệnh. Ở thời kỳ này, người bệnh hầu như không có bất kỳ triệu chứng bất thường nào của bệnh. Vì thế rất khó để phát hiện bệnh trong giai đoạn này. Đồng thời, bệnh nhân cũng chưa bài xuất mầm bệnh ra môi trường trong thời kỳ này.

Khi bệnh lao tiến triển, tùy vào từng cơ quan mà vi khuẩn lao gây bệnh thì người bệnh có thể biểu hiện những triệu chứng khác nhau.

Đối với lao phổi, bệnh nhân thường có các triệu chứng sau đây:

  • Ho: Ho là triệu chứng của mọi bệnh phổi cấp và mạn tính. Ho có thể do nhiều nguyên nhân như viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, lao, ung thư phổi… Mọi bệnh nhân ho trên 3 tuần không phải do viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, ung thư phổi mà đã dùng thuốc kháng sinh không giảm ho phải nghĩ đến do lao phổi.
  • Khạc ra đờm: Khạc đờm là biểu hiện tăng xuất tiết do phổi phế quản bị kích thích hoặc do có tổn thương tại phổi phế quản. Khạc đờm cũng như ho có thể do rất nhiều nguyên nhân gây ra mà các nguyên nhân thông thường nhất là viêm nhiễm. Do vậy, nếu sau khi đã dùng thuốc kháng sinh, triệu chứng khạc đờm không giảm thì người bệnh có triệu chứng ho khạc trên 3 tuần phải nghĩ đến do lao phổi. Ho khạc đờm là những dấu hiệu hay gặp nhất trong các dấu hiệu quan trọng gợi ý nguyên nhân lao phổi.
  • Ho ra máu: Ho ra máu là triệu chứng có thể gặp ở 60% những người lao phổi, thể hiện có tổn thương, chảy máu trong đường hô hấp.
  • Đau ngực, khó thở: Đau ngực là triệu chứng dễ nhận thấy khi ta bị bệnh lao phổi. Ho nhiều sẽ gây ra ức chế lên phế quản, gây ra tình trạng khó thở, đau ngực, nhất là khi phổi đang bị tổn thương thì khả năng trao đổi khí sẽ càng khó khăn hơn.
  • Gầy, sụt cân: Là triệu chứng thường gặp ở số đông người lao phổi. Những người bệnh gầy, sụt cân không rõ nguyên nhân, không phải do tiêu chảy, suy dinh dưỡng, nhiễm HIV/AIDS… nhưng có các triệu chứng hô hấp như đã nêu trên phải nghĩ ngay tới lao phổi.
  • Sốt: Là triệu chứng hay gặp ở người lao phổi. Sốt có thể ở nhiều dạng: sốt cao, sốt thất thường nhưng hay gặp nhất là sốt nhẹ hay gai lạnh về chiều. Những người có triệu chứng sốt như trên cùng với các triệu chứng về hô hấp như ho, khạc đờm, ho ra máu… phải nghĩ tới do lao phổi.
  • Ra mồ hôi: Là triệu chứng có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Trong lao phổi, ra mồ hôi là do rối loạn thần kinh thực vật mà người ta thường hay gọi là ra mồ hôi trộm, ở trẻ em triệu chứng này dễ nhận thấy nhất.
  • Chán ăn, mệt mỏi: Là dấu hiệu rất phổ biến, có thể do tác động tâm lý, tình trạng sức khỏe, căng thẳng, stress gây nên các ức chế khiến bạn cảm thấy mệt mỏi, thiếu ngủ không muốn ăn uống. Nhiều người bỏ qua dấu hiệu quan trọng này.

Những người có nguy cơ mắc bệnh lao phổi

Bệnh lao phổi thường gặp ở tất cả mọi lứa tuổi và giới tính, đặc biệt với những người sống trong môi trường tiếp xúc thường xuyên với những người bị lao phổi nếu không có biện pháp phòng tránh sẽ có khả năng nhiễm bệnh cao.

Những đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh lao phổi:

  • Tiếp xúc gần với người mắc bệnh lao như người nhà, người chăm sóc, bạn bè thân thiết,…
  • Sống và làm việc tại những nơi có bệnh nhân lao như bệnh viện, trạm y tế, trại tị nạn,…
  • Người bị mắc các bệnh gây suy yếu hệ miễn dịch như HIV, bệnh gan, lách,…
  • Người sống ở những nơi có điều kiện y tế chưa phát triển hoặc đi từ vùng có dịch bệnh lao.
  • Người nghiện ma túy, rượu, thuốc lá;
  • Sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch kéo dài như corticosteroid, hóa chất điều trị ung thư…

Theo thống kê, chỉ khoảng 10% số người nhiễm vi trùng lao có thể mắc bệnh lao. Người khỏe mạnh bị nhiễm vi khuẩn lao kèm với sức đề kháng của cơ thể bị suy giảm do: lao động cực nhọc, ăn uống thiếu thốn, sinh hoạt không điều độ, môi trường sống thiếu vệ sinh, do nhiễm HIV… sẽ tạo điều kiện cho vi trùng lao sẽ phát triển mạnh trong cơ thể và gây bệnh.

Nguyên nhân gây bệnh lao phổi

Lao phổi là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao gây nên ở phổi của người bệnh. Vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis chính là nguyên nhân chính gây ra bệnh lao phổi.

Một số thông tin về vi khuẩn lao:

  • Tên tác nhân: Trực khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) thuộc họ Mycobacteriaceae.
  • Hình thái: Trực khuẩn lao hình que, bắt mầu tím khi nhuộm Gram, bắt màu đỏ khi nhuộm Ziehl-Neelsen. Trực khuẩn không sinh nha bào, không di động, sinh sản chậm (20 giờ một thế hệ mới ra đời), hiếu khí.
  • Khả năng tồn tại trong môi trường bên ngoài: Trực khuẩn lao kháng lại cồn và axit ở nồng độ diệt được vi khuẩn khác. Trực khuẩn lao sống được nhiều tuần trong đờm, trong rác ẩm và tối, chết ở nhiệt độ 1000C/5 phút và dễ bị mất khả năng gây bệnh dưới ánh nắng mặt trời.

Bệnh lây lan do vi khuẩn lao phát tán ra ngoài khi người mắc lao phổi ho, nói, hắt hơi, khạc nhổ mà vô tình người tiếp xúc gần đó có thể bị hít vào và gây bệnh tại phổi. Từ phổi, vi khuẩn lao có thể qua đường máu hay bạch huyết đến các tạng khác trong cơ thể và gây bệnh tại đó.

Lao phổi có lây không?

Bệnh lao phổi là một bệnh lây lan qua không khí, mầm bệnh không tồn tại trong tự nhiên và không có vật trung gian truyền bệnh. Nguồn lây bệnh là những người hoặc động vật mắc bệnh lao.

Bệnh rất dễ lây từ người sang người do lây bằng đường hô hấp. Người khỏe mạnh có thể bị lây bệnh khi tiếp xúc trực tiếp với người bị bệnh lao phổi hoặc với chất thải có chứa vi khuẩn lao như: đờm, dãi, nước bọt văng ra do người bệnh ho, hắt hơi …hay dùng chung đồ (khăn, bát đũa, chậu,…) với bệnh nhân lao.

Ngoài ra, môi trường sống ô nhiễm, ẩm ướt, ăn phải thực phẩm bị nhiễm vi khuẩn lao, tiếp xúc với thú nuôi nhiễm lao cũng là điều kiện tốt cho vi khuẩn lao phát triển và gây bệnh. Cứ 1 người bị lao phổi ho khạc ra vi khuẩn có thể lây cho 10-15 người khác trước khi người bệnh được điều trị. Tuy nhiên, khi đã được điều trị bằng thuốc chống lao, khả năng lây bệnh rất thấp.

Lưu ý:

  • Khả năng lây mạnh trong thời gian chưa được điều trị. Nếu không được phát hiện và điều trị, người bệnh sẽ liên tục phát tán vi khuẩn lao trong suốt thời gian họ sống.
  • Khi đã được điều trị bằng thuốc chống lao, khả năng lây bệnh rất thấp
  • Bệnh lao ngoài phổi không có nguy cơ lây nhiễm cho người khác.

Lao phổi là bệnh gì?

Bệnh lao phổi là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao gây ra, thuộc họ Mycobacterium, vi khuẩn này tấn công và hủy hoại mô cơ thể. Vi khuẩn lao có thể gây bệnh ở nhiều nơi trên cơ thể: lao phổi, lao khớp, lao màng não, lao hạch, lao ruột, lao sinh dục, lao màng bụng,… Trong đó lao phổi là thường gặp nhất với tỷ lệ cao, từ 80 – 85%, và là nguồn lây chính cho người xung quanh.

Tuy nhiên, không phải trường hợp nhiễm vi khuẩn lao nào cũng mắc lao phổi. Bởi khi xâm nhập, vi khuẩn sẽ chịu sự tác động và tấn công của hệ miễn dịch. Nếu những người có sức đề kháng yếu thì vi khuẩn lao sẽ sinh sôi nảy nở và gây bệnh, thời gian phát bệnh nhanh. Ngược lại, những người có sức đề kháng tốt thì bệnh sẽ phát rất chậm, có khi đến vài chục năm, thậm chí là không phát bệnh.

Nhiều bệnh nhân thường mắc tình trạng ủ bệnh lao, gọi là bệnh lao tiềm tàng. Sau một khoảng thời gian tùy vào sức khỏe người bệnh, có thể trong vài tuần cho tới vài năm, vi khuẩn lao bắt đầu hoạt động và gây các triệu chứng bệnh. Sau đó, bệnh lao xuất hiện.

Cách chẩn đoán lao phổi

Các chẩn đoán ban đầu dựa vào triệu chứng đặc thù của bệnh. Khi bệnh nhân có các triệu chứng điển hình của lao phổi, bác sĩ sẽ chỉ định thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu để chẩn đoán chính xác hơn:

  • Xét nghiệm đờm: khi soi đờm bằng kính hiển vi sẽ thấy vi khuẩn lao, đây là xét nghiệm đơn giản và có tính chính xác cao khi chẩn đoán bệnh lao phổi.
  • Chụp X-quang phổi giúp phát hiện tổn thương phổi do vi khuẩn lao gây ra.
  • Phản ứng Tuberculin (phản ứng Mantoux): Phản ứng cho kết quả dương tính cho thấy tình trạng cơ thể đã có miễn dịch với vi khuẩn lao (có thể là nhiễm vi khuẩn lao mà chưa mắc bệnh lao). Kết quả âm tính cũng không loại trừ được có mắc bệnh lao hay không. Những người bị suy dinh dưỡng, nhiễm HIV, có thể cho phản ứng âm tính giả.

Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh ho khạc mạn tính:

  • Bệnh dãn phế quản: Ho khạc đờm mạn tính, có thể ho ra máu. Thể trạng bệnh nhân vẫn tốt, không gầy sút. Bệnh xuất hiện từng đợt kèm theo sốt cao, đờm mủ. Bệnh đỡ sau khi điều trị kháng sinh 2 đến 3 tuần. Soi đờm không có AFB. Chụp X quang phổi có hình ảnh “tổ ong” hoặc viêm dầy các phế quản.
  • Bệnh COPD (Bệnh phổi phế quản tắc nghẽn mạn tính): Bệnh có triệu chứng ho khạc đờm mạn tính nhiều năm, nhưng triệu chứng chủ yếu là khó thở thường xuyên, liên tục và nặng dần lên theo thời gian. Không tìm thấy AFB trong đờm.
  • Bệnh ung thư phổi: Ho khạc mạn tính, có thể ho ra máu, gầy sút cân, đau ngực. Thường gặp ở nam giới trên 40 tuổi, có tiền sử hút thuốc lá nhiều năm. X quang phổi có thể thấy tổn thương dạng khối u đa hình thái. Không có AFB trong đờm.

Điều trị lao phổi như thế nào

Hiện nay, lao phổi không còn là nỗi sợ của mọi người bởi vì căn bệnh này đã có thể điều trị dễ dàng. Hầu hết các trường hợp lao phổi đều được điều trị thành công nếu có phác đồ điều trị đúng đắn và tuân thủ các nguyên tắc điều trị. Phương pháp điều trị lao phổ biến là dùng nhiều loại thuốc kháng sinh trong vòng 6 tháng hoặc lâu hơn. Tuy nhiên phác đồ cụ thể cho từng ca bệnh thì còn phải tùy thuộc vào nhiều yếu tố: độ tuổi, sức đề kháng của người bệnh và tình trạng kháng thuốc của người bệnh.

Bạn có thể tham khảo phác đồ điều trị bệnh lao cho người mắc bệnh lao phổi lần đầu tiên theo chương trình Chống lao Quốc gia.

Trong quá trình điều trị, để đạt được kết quả nhanh chóng và tốt nhất, người bệnh nên tuân thủ theo các chỉ dẫn của bác sĩ, phải uống thuốc đúng liều, đủ liều và uống đúng giờ. Trong trường hợp bệnh nhân cảm thấy bệnh thuyên giảm cũng không được tự ý ngưng sử dụng thuốc. Khi các khâu điều trị gặp vấn đề, bệnh nhân có thể gặp phải một số biến chứng nguy hiểm của bệnh lao phổi sau đây:

  • Vi khuẩn lao kháng thuốc và phát triển nhanh chóng thành bệnh lao đa kháng thuốc (MDR), gây khó khăn trong điều trị.
  • Tràn dịch hoặc tràn khí màng phổi, xuất huyết đường hô hấp.
  • Nấm đường hô hấp, giãn phế quản, suy hô hấp mãn tính.

Nguyên tắc điều trị:

  • Người bệnh phải được điều trị càng sớm càng tốt ngay sau khi phát hiện bệnh.
  • Phương pháp điều trị có kiểm soát trực tiếp (DOTS).
  • Điều trị theo phác đồ chuẩn được Bộ Y tế qui định cho các trường hợp lao phổi mới được phát hiện. 2S(E)HRZ/4RH hoặc2S(E)HRZ/6HE.
  • Tuân thủ nguyên tắc: Uống thuốc đúng phác đồ. Uống thuốc đủ thời gian. Uống thuốc đều đặn vào 1 lần nhất định trong ngày, xa bữa ăn.

About