Top 6 Bài soạn Việt Bắc (Tố Hữu) – Phần II: Tác phẩm (Ngữ văn 12) hay nhất

Tố Hữu là một nhà thơ cách mạng tiêu biểu của phong trào thơ ca Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Những tác phẩm của ông như một vũ khí nhằm chống lại quân xâm lược, động viên, khích lệ tinh thần yêu nước của nhân dân. Bài thơ “Việt Bắc” được tác giả viết trong những ngày tác giả đóng quân ở vùng Việt Bắc. Bài thơ thể hiện tình quân dân gắn bó, thiết tha sâu sắc, khi chia tay kẻ ở người đi biết bao lưu luyến, lúc chia tay được tác giả viết lên thành những vần thơ nhiều cảm xúc, nghẹn ngào tâm tư tình cảm. Dưới đây là những Bài soạn Việt Bắc (Tố Hữu) – Phần II: Tác phẩm (Ngữ văn 12) hay nhất mà danh sách đã sưu tầm và tổng hợp.

Bài tham khảo số 5

Trả lời câu 1 (trang 114 SGK Ngữ văn 12, tập 1)

– Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô.

– Sắc thái tâm trạng: nhớ thương, lưu luyến gắn với tình huống chia ly giữa người ra đi và người ở lại.

– Lối đối đáp (mình – ta) là thủ pháp khơi gợi, bộc lộ tâm trạng, tạo ra sự đồng vọng, là sự phân thân của cái tôi trữ tình.


Trả lời câu 2 (trang 114 SGK Ngữ văn 12, tập 1)

Vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc hiện lên qua dòng hồi tưởng tha thiết:

– Cảnh sắc Việt Bắc tươi đẹp, phong phú, sống động, say đắm lòng người:

+ Thiên nhiên mang đặc trưng của Việt Bắc với các hình ảnh: “rừng núi”, “mưa nguồn suối lũ”, “mây mù”, “trám”, “măng”,…

+ Cảnh sắc thanh bình, mộc mạc, gần gũi: “trăng lên đầu núi”, “nắng chiều lưng nương”, “bản khói cùng sương”, “rừng nứa bờ tre”, “tiếng mõ rừng chiều”, “chày đêm nện cối đều đều suối xa”…

+ Cảnh sắc thơ mộng, trữ tình, sống động: “hoa chuối đỏ tươi”, “mơ nở trắng rừng”, “rừng phách đổ vàng”, “rừng thu trăng rọi hòa bình”…

– Con người Việt Bắc cần cù, tình nghĩa, gắn bó, hết lòng vì cách mạng:

+ Chăm chỉ, cần cù: con người Việt Bắc hầu hết được miêu tả trong công việc lao động (làm nương, chăn trâu, đi rừng, “đan nón”, “hái măng”,…)

+ Đồng cam cộng khổ với cán bộ cách mạng: “thương nhau”, “chăn sui đắp cùng”.

+ Kiên cường, dũng cảm, vùng lên đấu tranh: “Nhớ khi giặc đến giặc lùng… Điện Biên vui về”.


Trả lời câu 3 (trang 114 SGK Ngữ văn 12, tập 1)

Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến:

– Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến:

+ Cả núi rừng Việt Bắc cùng tham gia kháng chiến: “Nhớ khi giặc đến giặc lùng/Rừng cây núi đá ta cùng đánh tây”

+ Hình ảnh đoàn quân kháng chiến: “Quân đi điệp điệp trùng trùng/ Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”, “Dân công đỏ đuốc từng đoàn”,….

+ Những chiến công ở Việt Bắc, những chiến thắng với niềm vui phơi phới: “Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về/ Vui từ Đồng Tháp, An Khê/ Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”.

– Vai trò của Việt Bắc trong kháng chiến:

+ Là quê hương cách mạng, đầu não, cái nôi của cuộc kháng chiến chống Pháp

+ Là nơi khích lệ, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta.

+ Nơi con người đặt niềm tin và hi vọng về ngày mai chiến thắng, hòa bình


Trả lời câu 4 (trang 114 SGK Ngữ văn 12, tập 1)

Hình thức nghệ thuật đậm đà tính dân tộc:

– Thể thơ lục bát truyền thống

– Lối kết cấu đối đáp “mình” – “ta”

– Ngôn ngữ giàu hình ảnh, các cách chuyển nghĩa truyền thống tạo phong vị ca dao.

– Lối biểu đạt, biểu cảm mang đậm đặc trưng của tâm hồn Việt mộc mạc, giản dị, ân tình.


Luyện tập

Câu 1 (trang 114 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

* Cách sử dụng cặp đại từ xưng hô mình – ta:

– Trong đoạn trích bài thơ Việt Bắc, từ mình được dùng để chỉ bản thân người nói – ngôi thứ nhất, nhưng cũng còn dùng ở ngôi thứ hai. Từ ta là ngôi thứ nhất, chỉ người phát ngôn, nhưng có khi ta chỉ chúng ta.

– Cặp đại từ này được sử dụng rất sáng tạo, biến hóa linh hoạt:

+ Có trường hợp: mình chỉ những người cán bộ, ta chỉ người Việt Bắc (Mình về mình có nhớ ta/ Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng).

+ Có trường hợp: mình chỉ người Việt Bắc, ta chỉ người cán bộ (Ta về, mình có nhớ ta/ Ta về, ta nhớ những hoa cùng người).
+ Có trường hợp: mình chỉ cả người cán bộ và người Việt Bắc (như chữ mình thứ ba trong câu: Mình đi mình lại nhớ mình).

* Ý nghĩa của cách sử dụng cặp đại từ mình – ta:

– Mang lại cho bài thơ phong vị ca dao, tính dân tộc đậm đà và một giọng điệu tâm tình ngọt ngào, sâu lắng.

– Góp phần làm cho tình cảm giữa người ra đi và người ở lại, giữa cán bộ với nhân dân Việt Bắc thêm thân mật, gần gũi, tự nhiên, gắn bó khăng khít tuy hai mà một.


Câu 2 (trang 114 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Phân tích đoạn thơ:

Ta về, mình có nhớ ta

….Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

Gợi ý:

MỞ BÀI:

– Việt Bắc, khúc ca trữ tình nồng nàn, đắm say về những lẽ sống lớn, ân tình lớn của con người cách mạng.

– Nỗi nhớ hướng về cảnh và người ở quê hương Việt Bắc là một nội dung nổi bật của bài thơ, được thể hiện hết sức xuất sắc trong đoạn thơ trên.

THÂN BÀI:

– Hai dòng đầu của đoạn thơ vừa giới thiệu chủ đề của đoạn, vừa có tính chất như một sự đưa đẩy để nối các phần của bài thơ lại với nhau. Người ra đi đã nói rõ:

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

Trong nỗi nhớ của người đi, cảnh vật lẫn con người Việt Bắc hòa quyện với nhau thành một thể thống nhất.

– Trong tám dòng thơ tiếp theo, tác giả tạo dựng một bộ tranh tứ bình về Việt Bắc theo chủ đề Xuân – Hạ – Thu – Đông. Ngòi bút tạo hình của nhà thơ đã đạt tới trình độ cổ điển. Bút pháp miêu tả nhất quán: câu lục để nói cảnh, còn câu bát dành để “vẽ” người.

– Bức thứ nhất của bộ tranh tả cảnh mùa đông. Màu hoa chuối đỏ tươi đã làm trẻ lại màu xanh trầm tịch của rừng già. Sự đối chọi hai màu xanh – đỏ ở đây rất đắt.

Hình ảnh con người được nói tới sau đó chính là điểm sáng di động của bức tranh. Tác giả thật khéo gài con dao ở thắt lưng người đi trên đèo cao khiến hình ảnh đó trở nên nổi bật.

– Bức tranh thứ hai tả cảnh mùa xuân bằng gam màu trắng. Xuân về, rừng hoa mơ bừng nở. Màu trắng tinh khiết của nó làm choáng ngợp lòng người. Âm điệu hai chữ “trắng rừng” diễn tả rất đạt sức xuân nơi núi rừng và cảm giác ngây ngất trong lòng người ngắm cảnh.

Người đan nón có dáng vẻ khoan thai rất hòa hợp với bối cảnh. Từ “chuốt” vừa mang tính chất của động từ vừa mang tính chất tính từ.

– Bức tranh thứ ba nói về mùa hè. Gam màu vàng được sử dụng đắc địa. Đó là “màu” của tiếng ve quyện hòa với màu vàng của rừng phách thay lá. Do cách diễn đạt tài tình của rừng phách, ta có cảm tưởng tiếng ve đã gọi dậy sắc vàng của rừng phách và ngược lại sắc vàng này như đã thị giác hóa tiếng ve.
Hình ảnh “cô gái hái măng một mình” xuất hiện đã cân bằng lại nét tả đầy kích thích ở trên. Nó có khả năng khơi dậy trong ta những xúc cảm ngọt ngào.

– Bức tranh thứ tư vẽ cảnh mùa thu với ánh trăng dịu mát, êm đềm. Trên nền bối cảnh ấy, “tiếng hát ân tình thủy chung” ai đó cất lên nghe thật ấm lòng. Đây là tiếng hát của ngày qua hay tiếng hát của thời điểm hiện tại đang ngân nga trong lòng người sắp phải giã từ Việt Bắc

KẾT BÀI:

Đoạn thơ có vẻ đẹp lộng lẫy đã được viết bằng một ngòi bút điêu luyện. Đọc nó, ấn tượng sâu sắc còn lại là nghĩa tình đối với “quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa”.

Bài tham khảo số 1

Bố cục

– Phần 1 (20 câu đầu): Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với người ra đi

– Phần 2 (còn lại): Lời của người ra đi với nỗi nhớ Việt Bắc


Câu 1 (Trang 114 sgk ngữ văn 12 tập 1)

– Hoàn cảnh sáng tác bài thơ:

+ Sáng tác tháng 10/ 1954 nhân sự kiện quân ta đánh tan thực dân Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ

+ Các chiến sĩ rời chiến khi về thủ đô, từ đó thấy được tình cảm lưu luyến của nhân dân Việt Bắc dành cho chiến sĩ, Tố Hữu sáng tác ra bài thơ Việt Bắc này

– Sắc thái tâm trạng của nhân vật trữ tình:

+ Tâm trạng thể hiện qua lời đối đáp

+ Lưu luyến, bịn rịn giữa người đi- kẻ ở. Không khí ân tình của hồi tưởng, hoài niệm của ước vọng và tin tưởng

+ Lối đối đáp: kết cấu quen thuộc trong ca dao, cách xưng hô mình – ta thể hiện tình cảm sự hô ứng


Câu 2 (trang 114 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Qua dòng hồi tưởng, vẻ đẹp của Việt Bắc hiện lên gần gũi, nên thơ:

– Vẻ đẹp trải dài theo thời gian, không gian khác nhau: sương sớm, nắng chiều, trăng khuya.

+ Bức tranh tứ bình của Việt Bắc : ( mùa xuân: mơ nở trắng rừng/ mùa đông: hoa chuối đỏ tươi/ mùa hạ: ve kêu rừng phách đổ vàng/ mùa thu: trăng gọi hòa bình)

– Thiên nhiên trở nên đẹp và hữu tình khi có sự gắn bó của con người:

+ Thiên nhiên có sự khắc nghiệt riêng của núi rừng Tây Bắc

+ Có những khoảnh khắc đẹp, thơ mộng

+ Hình ảnh khó quên: khói bếp, sương núi, cảm giác bản mường bồng bềnh, mờ ảo trong sương

+ Âm thanh của nhịp sống yên bình, yên ả

-> Thiên nhiên Việt Bắc là sự giao hòa bốn mùa hòa với không khí kháng chiến, vất vả, gian khổ nhưng lạc quan, hào hùng

+ Cảnh làng bản ấm cúng

+ Cảnh chiến khu sinh hoạt

+ Cảnh lãng mạn, ân tình

b, Những hồi tưởng về con người Việt Bắc

– Trong dòng hồi tưởng, nhà thơ nhớ tới con người Việt Bắc trên nền chung của núi rừng

+ Nhớ tới con người Tây Bắc gắn với những hoạt động sinh hoạt đặc trưng: cô em gái hái măng, người đan nón, người đi rừng, nhớ tiếng hát ân tình thủy chung

+ Cuộc sống kháng chiến khó khăn nhưng có sự sẻ chia, đồng cảm:

Thương nhau chia củ sắn bùi

Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng

-> Tác giả nhớ tới tình cảm nghĩa tình, những ngày được đồng bào Tây Bắc che chở, đùm bọc dù cuộc sống khó khăn, gian khổ


Câu 3 (trang 114 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Khung cảnh Việt Bắc trong chiến đấu và vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến được khắc họa sinh động mang âm hưởng của khúc tráng ca

+ Cả dân tộc đồng lòng chống kẻ thù: miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai

+ Dù trải qua nhiều thiếu thốn, khó khăn nhưng vẫn đầy lạc quan, sôi nổi: gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

– Không khí chuẩn bị cho chiến dịch khẩn trương, sôi nổi, thể hiện sức mạnh tổng hợp

Chiến thắng khẳng định sức mạnh và bản lĩnh kiên cường quyết thắng của dân tộc.

– Nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến: Việt Bắc là quê hương của cách mạng, đầu não của cuộc kháng chiến, nơi đặt niềm tin tưởng và hi vọng của con người Việt Nam


Câu 4 (trang 114 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Nghệ thuật đậm đà tính dân tộc của bài thơ

– Sử dụng thể thơ lục bát- thể tơ dân tộc- nhẹ nhàng, sâu lắng, dễ đi vào lòng người

– Hình ảnh thân thương, gần gũi với đời sống người dân: nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn, nhớ người mẹ nắng cháy lưng

– Ngôn ngữ dân tộc: tiêu biểu nhát là cặp đại từ xưng hô mình- ta sáng tạo trong thơ

– Nhịp điệu, nhạc điệu dân tộc: khi nhẹ nhàng, thơ mộng, khi đằm thắm, ân tình, lúc mãnh mẽ, hùng tráng


Luyện tập

Bài 1 (trang 114 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Cặp đại từ xưng hô mình- ta quen thuộc trong ca dao được tác giả đưa vào thơ một cách tự nhiên, ấm áp

– Tác giả cũng vận dụng tài tình cảm xúc dân dã, ngọt ngào, đằm thắm của ca dao, dân ca trong cặp từ mình- ta

+ Có những trường hợp: mình chỉ những người cán bộ, ta chỉ người Việt Bắc ( Mình về mình có nhớ ta/ Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng)

+ Mình chỉ người Việt Bắc, ta chỉ người cán bộ ( Ta về mình có nhớ ta/ Ta về ta nhớ những hoa cùng người)

+ Trường hợp mình chỉ cả người cán bộ và người Việt Bắc (chữ mình thứ ba trong câu, mình đi mình lại nhớ mình)

– Ý nghĩa của cặp đại từ xưng hô mình- ta:

+ Mang lại cho bài thơ phong vị ca dao, tính dân tộc đậm đà và một giọng điệu tâm tình, chân thành, sâu lắng

+ Góp phần làm cho tình cảm giữa người ở lại với người ra đi, giữa cán bộ và nhân dân vùng kháng chiến trở nên khăng khít, sâu nặng


Bài 2 (trang 114 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Phân tích đoạn về vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc:

– Lời đoạn thơ như khúc hát ân tình, tha thiết về Việt Bắc, quê hương cách mạng trong thời kháng chiến

– Bên cạnh bức tranh đậm chất sử thi về cuộc sống đời thường gần gũi, tình cảm của người lính cách mạng là vẻ đẹp của tự nhiên

+ Bức tranh tứ bình về Việt Bắc được tái hiện đạt tới sự tinh tế

+ Bức tranh mùa xuân ấm áp, rực rỡ: hoa chuối đỏ tươi

+ Mùa xuân với gam màu trắng của hoa mơ, hoa mận gợi lên cảnh núi rừng tràn đầy sức xuân, sự tinh khiết

+ Bức tranh mùa hè với màu vàng rực rỡ của rừng cây vào thu, hòa quyện với âm thanh tiếng ve kêu nét đặc trưng mùa hè

+ Hình ảnh con người nổi bật giữa không gian núi rừng càng khiến câu thơ trẻ nên ngọt ngào, thi vị hơn

+ Với hình ảnh của những khung cảnh Việt Bắc xuất hiện trước mắt người đọc với tiếng hát của con người, sự hài hòa giữa cảnh và người tạo nên sự nổi bật cho nhau.

+ Bức tranh thứ tư rừng thu Việt Bắc trở nên mênh mông, nhưng không hề lạnh lẽo bởi có tiếng hát hòa quyện với hình ảnh ánh trăng êm đềm, thanh bình

– Việt Bắc được xem là sự tài hoa của Tố Hữu, nhà thơ thể hiện sự tinh tế của mình bởi sự dẫn dắt của một điệu tâm hồn đầy tình nghĩa, bức tranh thiên nhiên gắn liền với vẻ đẹp, tâm hồn của con người.

Bài soạn tham khảo số 4

Câu 1 (trang 114 sgk Ngữ văn 12 Tập 1):

– Hoàn cảnh sáng tác

+ Cuối năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi.

+ Trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về thủ đô Hà Nội sau 9 năm kháng chiến gian khổ, trường kì.

+ Tố Hữu đã viết bài thơ Việt Bắc để ghi lại tình cảm và mối quan hệ gắn bó khăng khít, nghĩa tình sâu nặng giữa nhân dân Việt Bắc với cái bộ và chiến sĩ cách mạng.

– Sắc thái tâm trạng của bài thơ: bâng khuâng bồn chồn, bịn rịn lưu luyến của nhân vật trữ tình trong cuộc chia tay.

– Lối đối đáp: cách xưng hô mình- ta


Câu 2 (trang 114 sgk Ngữ văn 12 Tập 1):

– Thiên nhiên Việt Bắc

+ Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên mang vẻ đẹp vừa gần gũi, vừa nên thơ quê hương cách mạng.

+ Vẻ đẹp đa dạng theo thời gian, không gian khác nhau: sương sớm nắng chiều trăng khuya…

+ Đặc biệt là “bức tranh tứ bình” của Việt Bắc qua bốn mùa:

• Mùa đông: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi……

• Mùa xuân: Ngày xuân mơ nở trắng rừng…..

• Mùa hạ: Ve kêu rừng phách đổ vàng……

• Mùa thu: Rừng thu trăng gọi hoà bình……

+ Thiên nhiên có sự gắn bó với con người:

• Cảnh làng bản ấm cúng

• Cảnh sinh hoạt kháng chiến ở chiến khu

• Cảnh thơ mộng, ân tình

• Cảnh sinh hoạt đặc trưng của Việt Bắc

– Con người Việt Bắc

+ Trong hồi tưởng, nhà thơ nhớ đến những con người Việt Bắc, trên cái phông chung của núi rừng: có người đan nón, cô em gái hái măng,….

+ cuộc sống thanh bình êm ả của con người nói đây:

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa

+ Cuộc sống vất vả, khó khăn trong kháng chiến nhưng chan chứa tình yêu thương:

Thương nhau chia củ sắn bùi

Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng.


Câu 3 (trang 114 sgk Ngữ văn 12 Tập 1):

– Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu được khắc họa đầy ấn tượng:

+ Cả dân tộc chất chứa căm thù thực dân đế quốc: Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai.

+ Thiếu thốn gian khổ nhưng vẫn đầy lạc quan: Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

+ vẻ đẹp của rừng núi đã cùng ta đánh giặc:

+ khung cảnh hùng tráng của bức tranh Việt Bắc xuất quân: Những đường Việt Bắc của ta…….

– Vai trò của Việt Bắc:

+ là chiếc nôi của cách mạng và kháng chiến

+ nơi nuôi dưỡng, đùm bọc, che chở cho cán bộ chiến sĩ từ những ngày đầu của cách mạng và sau này là kháng chiến chống Pháp.


Câu 4 (trang 114 sgk Ngữ văn 12 Tập 1):

– Hình thức nghệ thuật đậm đà tính dân tộc được thể hiện trong đoạn trích

+ Thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc.

+ Kết cấu đối đáp trong ca dao, dân ca, giao duyên.

+ Hình thức đối đáp: đậm đà phong vị ca dao, dân ca, chủ âm mà ngọt ngào, tha thiết.

+ Giọng điệu tâm tình, ngọt ngài, quyến luyến của bài thơ.


Luyện tập

1. Nét tài hoa của Tố Hữu trong việc sử dụng cặp xưng hô ta- mình

– Đại từ xưng hô “ta– mình” quen gặp trong ca dao, quen thuộc trong cách xưng hô của các lứa đôi ngày xưa.

– Hai đại từ ấy có sự hoán đổi cho nhau, khó tách rời, tuy hai mà một, tuy một mà hai

– Tố Hữu tự phân thân để giãi bày tâm trạng của tình yêu thương trên quê hương đất nước

2. Dựa vào phần soạn bài trên đề bình giảng, có thể bình giảng bộ tranh tứ bình, vẻ đẹp con người Việt Bắc,…

Bài tham khảo số 6

Câu 1 (trang 114 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ. Phân tích sắc thái tâm trạng, lối đối đáp của nhân vật trữ tình trong đoạn trích.

Lời giải chi tiết:

a. Hoàn cảnh sáng tác

Cuối năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi. Trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về thủ đô Hà Nội sau 9 năm kháng chiến gian khổ, trường kì. Tố Hữu đã viết bài thơ Việt Bắc để ghi lại tình cảm và mối quan hệ gắn bó khăng khít, nghĩa tình sâu nặng giữa nhân dân Việt Bắc với cán bộ và chiến sĩ cách mạng.

b. Sắc thái tâm trạng của bài thơ

Tâm trạng bâng khuâng bồn chồn, bịn rịn lưu luyến của nhân vật trữ tình trong cuộc chia tay.

c. Lối đối đáp: Hai nhân vật đều xưng-gọi là “mình” và “ta” là thủ pháp khơi gợi, bộc lộ tâm trạng, tạo ra sự đồng vọng, là sự phân thân của cái tôi trữ tình.


Câu 2 (trang 114 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tình, vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc hiện lên như thế nào?

Lời giải chi tiết:

a. Hồi tưởng về thiên nhiên Việt Bắc.

Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên mang vẻ đẹp vừa gần gũi, vừa nên thơ quê hương cách mạng.

– Vẻ đẹp đa dạng theo thời gian, không gian khác nhau: sương sớm nắng chiều trăng khuya… Đặc biệt là “bức tranh tứ bình” của Việt Bắc qua bốn mùa:

+ Mùa đông: “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”

+ Mùa xuân: “Ngày xuân mơ nở trắng rừng”

+ Mùa hạ: “Ve kêu rừng phách đổ vàng”

+ Mùa thu: “Rừng thu trăng gọi hoà bình”

– Thiên nhiên trở nên đẹp hơn, hữu tình hơn khi có sự gắn bó với con người:

+ Cảnh làng bản ấm cúng:

“Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về”

+ Cảnh sinh hoạt kháng chiến ở chiến khu:

“Nhớ sao lớp học i tờ …

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”

+ Cảnh thơ mộng, ân tình:

“Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”

+ Cảnh sinh hoạt đặc trưng của Việt Bắc:

“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa”

Những câu thơ được sắp xếp xen kẽ, cứ một câu tả cảnh lại có một câu người, thể hiện sự gắn bó giữa cảnh và người.

b. Hồi tưởng về con người Việt Bắc

– Trong hồi tưởng, nhà thơ nhớ đến những con người Việt Bắc, trên cái phông chung của núi rừng. Tác giả nhớ người đi rừng: “Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng”, “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”, “Nhớ cô em gái hái măng một mình”, và nhớ “tiếng hát ân tình thuỷ chung” của người Việt Bắc.

– Nhớ đến cuộc sống thanh bình êm ả:

“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa”

– Cuộc sống vất vả, khó khăn trong kháng chiến nhưng chan chứa tình yêu thương:

“Thương nhau chia củ sắn bùi

Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”

Đó là cảnh sinh hoạt bình dị của người dân Việt Bắc. Nét đẹp nhất chính là nghĩa tình và sự đùm bọc, che chở cho cách mạng, hi sinh tất cả vì kháng chiến, dù cuộc sống còn rất khó khăn.


Câu 3 (trang 114 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu; vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến đã được Tố Hữu khắc hoạ ra sao?

Lời giải chi tiết:

Trong hồi tưởng, tác giả nhớ về những kỷ niệm kháng chiến, những khung cảnh rộng lớn, những hoạt động tấp nập, sôi nổi của dân công và chiến sĩ:

– Cả dân tộc chất chứa căm thù thực dân đế quốc: Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai.

– Thiếu thốn gian khổ nhưng vẫn đầy lạc quan: Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

– Đó là vẻ đẹp của “thế trận” rừng núi đã cùng ta đánh giặc:

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành luỹ sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”

– Đó là khung cảnh hùng tráng của bức tranh “Việt Bắc xuất quân”, đầy hào khí, chỉ mới ra quân mà như đã cầm chắc chiến thắng trong tay:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nứt đá muôn tàn lửa bay…

=> Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu đã được nhà thơ Tố Hữu khắc hoạ thật đẹp và đầy ấn tượng.

– Vai trò của Việt Bắc: là chiếc nôi của cách mạng và kháng chiến, nơi nuôi dưỡng, đùm bọc, che chở cho cán bộ chiến sĩ từ những ngày đầu của cách mạng và sau này là kháng chiến chống Pháp.


Câu 4 (trang 114 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Nhận xét về hình thức nghệ thuật đậm đà tính dân tộc của bài thơ và đoạn thơ.

Lời giải chi tiết:

Tính dân tộc của bài thơ và đoạn thơ thể hiện ở các khía cạnh:

– Thể thơ lục bát – một thể thơ truyền thống của dân tộc được sử dụng nhuần nhị, uyển chuyển và sáng tạo.

– Sử dụng kết cấu đối đáp thường gặp trong dân ca: tiêu biểu là cặp đại từ xưng hô “ta” – “mìn”h được dùng rất sáng tạo trong bài thơ.

– Các hình ảnh quen thuộc, đại chúng theo lối phô diễn dân tộc: “Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”, “mình về mình có nhớ ta”.

– Biện pháp so sánh, ẩn dụ quen thuộc trong ca dao.

– Nhịp điệu, nhạc điệu dân tộc khi nhẹ nhàng, thơ mộng; khi đằm thắm ân tình, khi mạnh mẽ, hùng tráng.


Luyện tập

Lời giải chi tiết:

Câu 1 (trang 114 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Nêu rõ nét tài hoa của Tố Hữu trong việc sử dụng đại từ xưng hô “mình” – “ta” trong bài thơ.

Trả lời:

Nét tài hoa của Tố Hữu trong việc sử dụng cặp đại từ “mình” và “ta”.

– “Mình” và “ta” là cách xưng hô quen thuộc trong ca dao được Tố Hữu đưa vào trong thơ một cách tự nhiên.

– Tác giả cũng đã vận dụng một cách tài tình cảm xúc dân dã, ngọt ngào, đằm thắm của ca dao dân ca trong cặp từ “mình” – “ta”.

+ Có trường hợp: “mình” chỉ những người cán bộ, “ta” chỉ người Việt Bắc (“Mình về mình có nhớ ta/ Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”).

+ Có trường hợp: “mình” chỉ người Việt Bắc, “ta” chỉ người cán bộ (“Ta về, mình có nhớ ta/ Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”).

+ Có trường hợp: “mình” chỉ cả người cán bộ và người Việt Bắc (như chữ “mình” thứ ba trong câu “Mình đi mình lại nhớ mình”).

Ý nghĩa của cách sử dụng cặp đại từ “mình” – “ta”:

– Mang lại cho bài thơ phong vị ca dao, tính dân tộc đậm đà và một giọng điệu tâm tình ngọt ngào, sâu lắng.

– Góp phần làm cho tình cảm giữa người ra đi và người ở lại, giữa cán bộ với nhân dân Việt Bắc thêm thân mật, gần gũi, tự nhiên, gắn bó khăng khít tuy hai mà một.


Câu 2 (trang 114 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Chọn trong bài thơ hai đoạn tiêu biểu. Bình giảng một trong hai đoạn.

Gợi ý:

Chọn đoạn thơ tiêu biểu nói về cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu: từ câu “Những đường Việt Bắc của ta” đến câu “Vui lên Việt Bắc, đèo De núi Hồng”.

Học sinh cần trình bày được những nội dung sau:

a. Giới thiệu vị trí của đoạn miêu tả khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc:

– Bài thơ Việt Bắc là những hồi tưởng của người kháng chiến về một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, nói lên nghĩa tình gắn bó thắm thiết với Việt Bắc, là khúc tình ca và cũng là bản anh hùng ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và những con người kháng chiến.

– Sau khi hồi tưởng về thiên nhiên và con người Việt Bắc, bài thơ dẫn người đọc vào khung cảnh Việt Bắc chiến đấu với không gian núi rừng rộng lớn, với những hoạt động tấp nập, hào hùng. Một Việt Bắc hùng tráng trong chiến đấu.

b. Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu:

– Đoạn thơ khắc hoạ bức tranh toàn cảnh quân dân ta ra trận chiến đấu với khí thế hào hùng, sôi sục, khẩn trương, không gian rộng lớn, thời gian đằng đẵng – trường kỳ, các từ láy giúp người đọc hình dung ra nhịp độ khẩn trương, gấp gáp và một sức mạnh tổng hợp làm rung chuyển cá mặt đất.

– Hình ảnh bộ đội hành quân ra trận vừa hào hùng, vừa lãng mạn: đoàn quân đi như những đợt sóng dâng trào mạnh mẽ. Ánh sao đầu súng vừa là một hình ảnh hiện thực vừa là hình ảnh ẩn dụ: ánh sao của lý tưởng soi đường chỉ lối cho những người chiến sĩ đánh đuổi kẻ thù bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc.

– Núi rừng Việt Bắc trong đêm khuya, cùng hành quân với những đoàn dân công phục vụ chiến đấu, hình ảnh đuốc sáng soi đường trong đêm, những bước chân hành quân… Hình ảnh cả Việt Bắc ra trận mang âm hưởng anh hùng ca, mang dáng vẻ của một sử thi hiện đại, những hình ảnh cường điệu: “bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”… khẳng định ý chí phi thường, sức mạnh to lớn của toàn dân trong kháng chiến.

Hai câu thơ cuối khẳng định niềm lạc quan tin tưởng vững chắc vào ngày chiến thắng của dân tộc ta. (HS phân tích hình ảnh đối lập trong hai câu thơ: “thăm thẳm sương dày” – “sáng ngày mai lên”)

c. Đoạn thơ vừa mang đậm chất sử thi hào hùng vừa giàu tính lãng mạn tượng trưng đã diễn tả thành công khí thế kháng chiến ở Việt Bắc, qua đó, nhà thơ muốn khắc họa sâu sắc hình ảnh dân tộc Việt Nam anh hùng trong cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, đầy gian khổ hi sinh nhưng nhất định sẽ thắng lợi.

Bài tham khảo số 2

Bố cục

– Phần 1 (20 câu đầu): Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với người ra đi

– Phần 2 (còn lại): Lời của người ra đi với nỗi nhớ Việt Bắc


Câu 1 (trang 114, sgk Ngữ văn 12, tập 1)

– Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: sau chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết (tháng 7/1954), tháng 10/1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng, Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô. Nhân sự kiện có tính lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc

– Phân tích sắc thái tâm trạng, lối đối đáp của nhân vật trữ tình:

+ Sử dụng cặp đại từ nhân xưng “mình” – “ta”, đây là cặp đại từ thường dùng để chỉ mối quan hệ trai gái, quan hệ vợ chồng, từ đó gợi tình cảm yêu thương, gắn bó

+ Tác giả đã hình dung cuộc chia tay của trung ương Đảng với nhân dân như cuộc chia tay của một đôi trai gái đầy bịn rịn, nhớ thương, lưu luyến


Câu 2 (trang 114, sgk Ngữ văn 12, tập 1)

Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tình, vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc hiện lên:

– Thiên nhiên Việt Bắc:

+ Trăng lên đầu núi: ánh trăng thanh bình giữa núi rừng

+ Nắng chiều lưng nương

+ Bản khói cùng sương: những bản làng chìm trong sương

+ Hình ảnh bếp lửa: sớm hôm bếp lửa người thương đi về

+ Cảnh rừng nứa, bờ tre,…

+ Cảnh thiên nhiên Việt Bắc qua bốn mùa với những nét đặc trưng riêng

– Nhớ về con người Việt Bắc:

+ Nhớ người Việt Bắc trong nghèo khó, vất vả mà vẫn tình nghĩa, thủy chung, gắn bó với cách mạng

+ Nhớ những kỉ niệm đầy ắp vui tươi, ấm áp giữa bộ đội và người dân Việt Bắc: lớp học i tờ, những giờ liên hoan

+ Nhớ hình ảnh những con người mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người lao động: “người mẹ”, “cô em gái”.


Câu 3 (trang 114, sgk Ngữ văn 12, tập 1)

– Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến:

+ Cả núi rừng Việt Bắc cùng tham gia kháng chiến: Nhớ khi giặc đến giặc lùng/Rừng cây núi đá ta cùng đánh tây

+ Hình ảnh đoàn quân kháng chiến: Quân đi điệp điệp trùng trùng/Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay, Dân công đỏ đuốc từng đoàn,….

+ Những chiến công ở Việt Bắc, những chiến thắng với niềm vui phơi phới: Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về/Vui từ Đồng Tháp, An Khê/Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

– Vai trò của Việt Bắc trong kháng chiến:

+ Là quê hương cách mạng, đầu não, cái nôi của cuộc kháng chiến chống Pháp

+ Là nơi khích lệ, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta.

+ Nơi con người đặt niềm tin và hi vọng về ngày mai chiến thắng, hòa bình


Câu 4 (trang 114, sgk Ngữ văn 12, tập 1)

Bài thơ Việt Bắc thể hiện tính dân tộc đậm đà:

– Sử dụng thành công thể thơ lục bát truyền thống.

– Sử dụng cặp đại từ nhân xưng “mình” – “ta” thường thấy trong ca dao

– Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, quen thuộc, gần gũi, đậm sắc thái dân gian.

– Sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật tài hoa như điệp từ, liệt kê, so sánh, ẩn dụ tượng trưng…

– Nhịp điệu thơ uyển chuyển ngân vang, giọng điệu thay đổi linh hoạt


Luyện tập

Câu 1 (trang 114, sgk Ngữ văn 12, tập 1)

– Tác giả sử dụng cặp đại từ nhân xưng mình-ta với sự biến hóa linh hoạt, và sáng tạo

+ Có trường hợp: mình chỉ những người cán bộ, ta chỉ người Việt Bắc (Mình về mình có nhớ ta/ Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng).

+ Có trường hợp: mình chỉ người Việt Bắc, ta chỉ người cán bộ (Ta về, mình có nhớ ta/ Ta về, ta nhớ những hoa cùng người).

+ Có trường hợp: mình chỉ cả người cán bộ và người Việt Bắc (như chữ mình thứ ba trong câu: Mình đi mình lại nhớ mình).

– Ý nghĩa việc sử dụng cặp đại từ nhân xưng mình – ta:

+ Làm cho bài thơ mang phong vị của những câu ca dao, ấm áp, gần gũi, thân thuộc

+ Khắc họa sâu sắc sự gắn bó, thủy chung, yêu thương, lưu luyến giữa Trung ương Đảng với những người dân Việt Bắc


Câu 2 (trang 114, sgk Ngữ văn 12, tập 1)

Phân tích đoạn thơ về khung cảnh Việt Bắc trong kháng chiến:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

(…)

Vui từ Đồng Tháp, An Khê

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng

– Giọng thơ: hào hùng, mạnh mẽ, nhanh, dồn dập

– Hình ảnh thơ:

+ Không gian: những đường Việt Bắc của ta – không gian rộng lớn, khắp mọi nẻo đường ở Việt Bắc

+ Quân đi điệp điệp, trùng trùng: những đoàn quân nối tiếp nhau ra trận

+ Dân công đỏ đuốc từng đoàn, bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay

+ Đèn pha bật sáng

→ Những hình ảnh thơ gợi nên một khí thế dũng mãnh, dồn dập, người người ra trận, nhà nhà ra trận

– Từ ngữ:

+ Sử dụng từ láy có giá trị tạo hình: điệp điệp, trùng trùng, …

+ Sử dụng dày đặc các động từ mạnh: đi, đỏ đuốc, nát đá, bay,…

→ Một Việt Bắc hào hùng, là một bản anh hùng ca với khí thế sục sôi trong cuộc kháng chiến chống Pháp

Nội dung chính của văn bản

– Nội dung: bài thơ là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Thể hiện sự gắn bó, ân tình sâu nặng với nhân dân, đất nước trong niềm tự hào dân tộc…

– Nghệ thuật: đậm chất dân tộc, trong việc sử dụng hình thức đối đáp với cặp đại từ nhân xưng mình – ta, ngôn ngữ, hình ảnh thơ giản dị, nhịp thơ uyển chuyển, sử dụng thể thơ dân tộc – thể thơ lục bát…

Bài tham khảo số 3

I. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 114 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1):

* Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, tháng 7/ 1954 hiệp định Giơ – ne – vơ về Đông Dương được kí kết, Hòa Bình lặp lại, miền Bắc nước ta được giải phóng. Tháng 10/ 1954, những cán bộ kháng chiến từ khu căn cứ Việt Bắc trở về miền xuôi, Trung ương Đảng và chính phủ về lại thủ đô. Nhân sự kiện có tính chất lịch sử trọng đại ấy, Tố Hữu sáng tác bài Việt Bắc.

* Sắc thái tâm trạng: nỗi nhớ da diết, mênh mang, một hoài niệm tha thiết, sâu nặng về những ngày tháng vừa qua trong kháng chiến và cách mạng. Nỗi nhớ da diết mênh mang của nhà thơ ở đây là nỗi nhớ về thiên nhiên núi rừng Việt Bắc, nỗi nhớ con người, cuộc sống Việt Bắc và những kỉ niệm khó quên về cuộc kháng chiến gian khổ, hào hùng ở nơi đây.

* Lối đối đáp của nhân vật trữ tình trong đoạn trích: Theo lối đối đáp của ca dao, giao duyên: lời hỏi là lời người ở lại, lời đối đáp là người ra đi.

Câu 2 (trang 114 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1):

Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tình, vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc hiện lên:

a, Qua lời của người ở lại:

* Thiên nhiên Việt Bắc:

– “Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù” nhịp thơ 4/4, biện pháp đối có tính chất bổ sung, khái quát sự khắc nghiệt của thiên nhiên núi rừng Việt Bắc trở thành thứ lửa tô luyện bản lĩnh và đúc lên khối tình nghĩa sâu nặng giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ kháng chiến.

– Nhớ về những ngày ở chiến khu “Miếng cơm.. vai”

+ Vế 1: diễn tả cuộc sống gian khổ, thiếu thốn.

+ Vế 2: cả hai cùng chung mối thù giai cấp, thù dân tộc, chung chí hướng cao đẹp.

→ Những ngày ở chiến khu thật gian nan nhưng sâu nặng, nghĩa tình.

* Nhớ về con người Việt Bắc: thủ pháp nghệ thuật đối:

+ Lau xám >< lòng son.

+ Hắt hiu >< đậm đà.

→ Nhằm tô đậm tấm lòng thủy chung, son sắt của con người Việt Bắc với cách mạng, kháng chiến, nhớ về những ngày đầu xây dựng căn cứ cách mạng: “Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh” – giai đoạn gian khổ mà hào hùng, đánh dấu sự lớn mạnh của cách mạng và kháng chiến, nhớ về Việt Bắc là nhớ về chính mình:

“Mình đi mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa”

b, Qua lời của người ra đi: Kỉ niệm sâu nặng về thiên nhiên và con người Việt Bắc trong những ngày kháng chiến

* Thiên nhiên Việt Bắc: Được hiện lên qua nỗi nhớ của người ra đi

– Nhớ về thiên nhiên Việt Bắc ở những thời điểm khác nhau: “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”.

– Nhớ về thiên nhiên Việt Bắc ở những không gian khác nhau:

+ Rừng nứa bờ tre

+ Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê…

→ Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên trong nỗi nhớ của người miền xuôi với những gì cụ thể nhất, thân thiết nhất. Qua đó thấy được tình cảm thủy chung của con người Việt Bắc, của người cán bộ kháng chiến với quê hương cách mạng.

* Nhớ về con người Việt Bắc

– Những người chia ngọt sẻ bùi với cán bộ cách mạng.

– Nhớ về bà mẹ Việt Bắc: tần tảo, giàu đức hi sinh.

– Nhớ về không gian sinh hoạt của con người thời kháng chiến: “Nhớ sao lớp học i tờ…”.

– Nhớ về nhịp sống ngàn đời của họ: “Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều…”

→ Những chuỗi âm thanh ấy gợi ra cuộc sống yên bình, hạnh phúc của nhân dân Việt Bắc.

* Tuyệt vời nhất là nhớ về thiên nhiên hài hòa với con người Việt Bắc:

“ Ta về mình có nhớ ta

Ta về tớ nhớ những hoa cùng người…

→ Cảnh và người ở mỗi cặp câu lại có sắc thái riêng theo từng mùa tạo nên bức tranh từ bình dị về hoa và người Việt Bắc: cảnh vật hiện lên như một bức tranh tứ bình với đủ bốn mùa, trong đó mỗi mùa lại có những nét đặc sắc riêng.


Câu 3 (trang 114 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1):

Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến được Tố Hữu khắc họa:

– Con người và thiên nhiên cùng tham gia đánh giặc: “Nhớ đường Việt Bắc của ta…”

→ Mang đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn.

– Tác giả tái hiện những con đường Việt Bắc trong đêm: tấp nập, rực rỡ ánh sáng.

→ Đoạn thơ đậm chất sử thi, hào hùng, tráng lệ.

– Nhớ về những cuộc họp luận bàn việc công của chính phủ: Trong gian khổ, thiếu thốn.

→ Tuyệt đối hóa vai trò của quê hương cách mạng Việt Bắc: quê hương cách mạng trở thành niềm tin, niềm hi vọng, hun đúc bản lĩnh, ý chí quyết tâm của bao người, hướng về Việt Bắc là hướng về Bác, hướng về ánh sáng và sự sống.


Câu 4 (trang 114 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1):

Hình thức nghệ thuật đậm đà tính dân tộc được thể hiện trong đoạn trích:

– Thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc.

– Kết cấu đối đáp trong ca dao, dân ca, giao duyên.

– Hình thức đối đáp: đậm đà phong vị ca dao, dân ca, chủ âm mà ngọt ngào, tha thiết.

– Giọng điệu tâm tình, ngọt ngào, quyến luyến của bài thơ.


Luyện tập

Câu 1 (trang 114 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1):

Nét tài hoa của Tố Hữu trong việc sử dụng cặp đại từ xưng hô ta – mình trong bài thơ:

– Đại từ xưng hô “ta– mình” quen gặp trong ca dao, dân ca thực chất tuy hai mà là một.

– Hai đại từ ấy có sự hoán đổi cho nhau, khó tách rời.

– Tố Hữu tự phân thân để giãi bày tâm trạng của tình yêu thương trên quê hương đất mẹ.


Câu 2 (trang 114 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1):

Dựa vào phần kiến thức đã soạn, HS tự chọn một trong hai đoạn trích để phân tích.

Có thể chọn đoạn thơ nói về vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc:

“Mình về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.”:

⇒ Vẻ đẹp thiên nhiên:

+ Đông: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

• Hoa chuối đỏ tươi làm ấm nóng bức tranh mùa đông lạnh giá, nó giống như ngọn đuốc xua tan đi cái giá lạnh rừng núi.

+ Xuân: Ngày xuân mơ nở trắng rừng

• Màu trắng của hoa mơ trong trẻo, tinh khôi, 2 chữ trắng rừng làm bừng sáng cả câu thơ, gợi ra không gian bạt ngàn hoa của núi rừng Tây Bắc trong mùa xuân.

+ Hạ: Ve kêu rừng phách đổ vàng

• Bức tranh mùa hè không chỉ có màu sắc mà còn có cả âm thanh. Khi tiếng ve ngân lên thì cả rừng phách nhất loạt trổ hoa màu vàng tươi mới. Từ đổ vừa gợi ra sự chuyển động vừa gợi ra cảm giác về sự thay đổi nhanh chóng.

+ Thu: Rừng thu trăng rọi hòa bình

• Bức tranh mùa thu lại gợi cảm giác thanh bình và thơ mộng, rất phù hợp với những cuộc hát giao duyên.

Xưa nay khi nói tới núi rừng Tây Bắc thường tạo cho ta cảm giác bí ẩn, dữ dội, xa lạ nhưng khi Việt Bắc trở thành chiến khu cách mạng thì thiên nhiên núi rừng ấy trở nên ấm áp, gần gũi với con người biết bao. Đó là một bộ tranh tứ bình về thiên nhiên Việt Bắc đậm đà hồn dân tộc.

⇒ Vẻ đẹp con người:

+ Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

• Tư thế làm chủ, chiếm lĩnh núi rừng

+ Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

• Khéo léo, mềm mại trong công việc

+ Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

• Thủy chung, đằm thắm, nghĩa tình

About