Danh Sách Dịch Vụ

Top 6 Bài soạn “Tự do” của P.Ê-luy-a lớp 12 hay nhất

Bài thơ “Tự do” của nhà thơ lớn người Pháp Pôn Ê-luy-a được viết vào mùa hè năm 1941, trong thời kì nước Pháp bị quân đội phát xít Đức xâm lược in trong tập “Thơ ca và chân lí” (1942) và được coi là thánh ca của thơ ca kháng chiến Pháp. “Tự do” thể hiện tình yêu tự do tha thiết tuôn trào trong trái tim nhà thơ đã đồng vọng trong tâm hồn cả dân tộc. Khát khao tự do biến thành khát khao hành động để giành lấy tự do cho tất cả mọi người. Mời các bạn tham khảo một số bài soạn hay nhất mà Danhsachtop đã tổng hợp trong bài viết sau đây.

Bài soạn “Tự do” của P.Ê-luy-a số 1

I. Tác giả & tác phẩm

1. Tác giả

Pôn Ê – luy – a (1985 – 1952) nhà thơ Pháp, tên thật là Pôn Ơ – gien Granh – đen, sinh ra ở Xanh Đơ – ni, một thị trấn nhỏ ở phía bắc Pa – ri.

Với hơn sáu mươi thi phẩm, ông đã tạo ra một hình thức mới mẻ, giàu chất trí tuệ, tràn đầy khát vọng nhân văn. Thơ ông chú trọng xây dựng các hình ảnh như thơ truyền thống mà hàm suy luận triết lí trữ tình triết lí. Dấu ấn của chủ nghĩa siêu thực thể hiện khá đậm nét ở cách quan niệm bí ẩn, siêu hình về mối tương quan hữu cơ giữa các mặt đối lập trong thực tế như sống – chết, thực – ảo, cái có thực – cái tưởng tượng, cái cao cả – cái thấp hèn, cái quá khứ – cái tương lai,… và đó là đặc điểm riêng của thơ ông.

2. Tác phẩm

Bài thơ Tự do được viết vào mùa hè năm 1941, trong thời kì nước Pháp bị quân đội phát xít Đức xâm lược, in trong tập Thơ ca và chân lí, 1942 và được coi là thánh ca của thơ ca kháng chiến Pháp.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 173 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1):

– Chủ đề tác phẩm: thể hiện khát vọng tự do thiết tha trong lòng tác giả.

– Cách liệt kê các hình ảnh trong bài thơ thể hiện sự liên tưởng ngẫu hứng. 11 khổ thơ đầu của bài thơ lặp lại “trên… trên”,và kết thúc mỗi khổ thơ lặp lại “Tôi viết tên em”.

→ Cách liệt kê hình ảnh, từ ngữ lặp lại tạo ra một kết cấu trùng điệp phù hợp với điệp khúc ca ngợi tự do.

Câu 2 (trang 173 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1):

* Câu kết “Tôi viết tên em” của mỗi khổ thơ: Tôi viết tên em – Tự do được thể hiện qua những vật cụ thể, hữu hình (trên trang vở, trên bàn trên tuyết…) và cả những vật vô hình (viết lên tuổi thơ ấu, những ngày bánh mì trắng, trên mặt trời ẩm mốc…)

→ Những hình ảnh thơ giản dị ấy lấy từ hiện thực cuộc sống để nói lên nỗi lòng, khát vọng của mình, khát vọng thiêng liêng của Tự Do.

* Nhạc điệu thơ gợi mạch cảm xúc hướng về tự do cũng là lời kêu gọi hành động vì tự do của nhà thơ.

=> Sự lặp lại nhiều lần gợi ra một niềm tin vững chắc, một sự khẳng định chắc chắn.

* Cách lặp từ theo kiểu “xoáy tròn” (trên… trên): tạo nhạc điệu, điểm nhấn cho bài thơ.

* Đại từ em: Tự Do đã được nhân hóa thành “em” trong ngôi thứ nhất nhằm nhấn mạnh khát vọng tự do mạnh mẽ, lớn lao trong lòng nhà thơ.

Câu 3 (trang 173 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1):

Giới từ “trên” được lặp lại nhiều lần trong bài thơ: được thể hiện cả không gian và thời gian

– Chỉ địa điểm – không gian (tôi viết Tự Do ở đâu, vào đâu)

– Chỉ thời gian (tôi viết Tự Do khi nào).

→ Khát vọng tự do hóa thân khắp không gian, xuyên suốt thời gian, hiện hữu trong cuộc đời mỗi con người.

Câu 4 (trang 173 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1):

Bài thơ thể hiện tình yêu tha thiết đối với tự do của tác giả đồng thời cũng truyền niềm khát khao tự do, khát khao hành động đến mọi người.

“Tôi viết tên em” như không có điểm dừng, kéo dài đến vô tận. “Tôi viết tên em” được lặp lại, tôi có thể là tác giả và cũng có thể là những độc giả của bài thơ; viết có thể hiểu là “ghi, chép”, có thể hiều là hành động. Bởi đặt trong bối cảnh nước Pháp lúc bấy giờ: mất tự do, nhiều vùng bị Phát xít Đức chiếm đóng.

=> Do đó bài thơ là bài “Thánh ca” nêu cao tinh thần đấu tranh để đòi lại độc lập, tự do.

Bài soạn “Tự do” của P.Ê-luy-a số 3

Trả lời câu 1 trang 173 SGK Ngữ văn 12, tập 1

– Cách liệt kê các hình ảnh: mỗi khổ thơ đều xuất hiện liên tiếp các hình ảnh thu được bằng thị giác như trang vở, bàn học, cây xanh, đất cát, tuyết, trang sách, tro tàn, gươm đao, mũ áo , sa mạc, rừng hoang, tổ chim, hoa trái, khoanh bánh trắng, trời xanh, vầng trăng, tàu thuyền…, bằng cảm giác về màu sắc (trời trong xanh, khoanh bánh trắng, rực vàng son) không theo trật tự hay logic nào

=> Những hình ảnh được liệt kê trong bài thơ là những hình ảnh giản di, gần gũi, chân thực trong cuộc sống. Tuy nhiên, việc sử dụng hình ảnh này không làm mất đi sự thiêng liêng của tự do mà ngược lại nó làm cho Tự Do được mở rộng ra nhiều nghĩa: Tự Do hóa thân vào mọi nơi, mọi chỗ và hóa thân vào cuộc sống.


Trả lời câu 2 trang 173 SGK Ngữ văn 12, tập 1

– Câu kết Tôi viết tên em lặp lại ở cuối các khổ thơ cho thấy dòng cảm xúc dào dạt, thiết tha và tình yêu mãnh liệt dành cho tự do. Cách lặp lại ấy cũng tạo tính nhạc, điệp khúc ấn tượng cho bài thơ.

– Cách lặp từ trên…trên…theo kiểu xoáy tròn tạo sự lan tỏa triền miên và rộng khắp cho tự do và tạo nhạc tính bay bổng cho bài thơ.

– Cách sử dụng đại từ em để gọi tự do là cách nhà thơ nhân hóa khái niệm trừu tượng này. Cách gọi này giúp nhà thơ diễn tả mối quan hệ thân mật, gắn bó và tình yêu thiết tha dành cho tự do.


Trả lời câu 3 trang 173 SGK Ngữ văn 12, tập 1

– Từ trên chỉ không gian, khi thì là những vật cụ thể, hữu hình (trang vở, bàn học, cây xanh…), khi thì là những vật trừu tượng, vô hình (thời thơ ấu âm vang, điều huyền diệu đêm đêm, …).

– Từ trên chỉ thời gian, khi thì đang ngồi học, khi đang chơi, khi đang đọc sách, khi đang viết, khi còn nhỏ, khi mơ, khi ăn, khi ngắm bầu trời…

=> Từ trên được sử dụng linh hoạt, mềm dẻo giúp bày tỏ tình yêu thiết tha và đáng quý trọng của nhà thơ dành cho tự do.

u 4 trang 173 SGK Ngữ văn 12, tập 1

Trả lời câu 4 trang 173 SGK Ngữ văn 12, tập 1

– Câu thơ Tôi viết tên em lặp đi lặp lại, tôi có thể là tác giả, cũng có thể là độc giả ở những nơi khác nhau, làm những công việc khác nhau.

– Từ viết có thể hiểu là ghi/chép hoặc là bất kì hành động nào hướng tới tự do.

=> Bởi vậy, bài thơ mang tính chất thánh ca, ca ngợi và bày tỏ tình yêu mãnh liệt với tự do, từ đó là tuyên ngôn hành động của nhân dân Pháp chống lại bọn phát xít Đức đang giày xéo quê hương, trói buộc tự do trên đất nước của Pôn Ê-luy-a.


Bố cục

Bố cục (2 phần)

– Phần 1 (11 khổ thơ đầu): hình thái của tự do

– Phần 2 (còn lại): khát vọng cháy bỏng tự do

Nội dung chính

“Tự do” thể hiện tình yêu tự do tha thiết tuôn trào trong trái tim nhà thơ đã đồng vọng trong tâm hồn cả dân tộc. Khát khao tự do biến thành khát khao hành động để giành lấy tự do cho tất cả mọi người.

Bài soạn “Tự do” của P.Ê-luy-a số 2

I. Tác giả
1. Tiểu sử
– Pôn Ê-luy-a (1895 -1952), nhà thơ Pháp, tên thật là Pôn Ơ-gien Granh-đen.
– Sinh ra ở Xanh Đơ-ni, một thị trấn nhỏ ở phía Bắc Pa-ri.
– Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông bị động viên vào lính và bị thương.
– Năm 1942, ông vào Đảng Cộng sản Pháp. Ông viết: “Mùa xuân 1942, tôi vào Đảng Cộng sản và bởi vì đó là Đảng của nước Pháp, tôi phụng sự bằng mọi sức lực và cả cuộc đời tôi. Tôi muốn cùng mọi người trong nước tôi tiến lên phía trước, đến tư do, đến hòa bình, cuộc sống chân chính.”

2. Sự nghiệp văn học
a. Tác phẩm chính
– Tập Thơ ca và chân lí
b. Phong cách nghệ thuật
– Pôn Ê-luy-a đã tạo ra một hình thức mới mẻ, giàu chất trí tuệ, tràn đầy khát vọng nhân văn.
– Thơ của ông không chú trọng xây dựng các hình ảnh như thơ truyền thống mà hàm chứa suy luận trữ tình triết lý.
– Dấu ấn của chủ nghĩa siêu thực thể hiện khác đậm nét ở cách quan niệm bí ẩn, siêu hình về mối tương quân hữu cơ giữa các mặt đối lập trong thực tế như sống – chết, thực – ảo, cái có thực – cái tưởng tượng, cái cao cả – cái thấp hèn, cái quá khứ – cái tương lai,…

b. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác
– Bài thơ được viết vào mùa hè năm 1941, trong thời kì nước Pháp bị quân đội phát xít Đức xâm lược.
– In trong tập “Thơ ca và chân lí” (1942) và được coi là thánh ca của thơ ca kháng chiến Pháp.

c. Bố cục (2 phần)
– Phần 1 (11 khổ thơ đầu): hình thái của tự do
– Phần 2 (còn lại): khát vọng cháy bỏng tự do

d. Chủ đề
– Chủ đề của tác phẩm thể hiện ngay trong nhan đề: Tự do. Chủ đề này xuyên suốt bài thơ và xuất hiện liên tục trong cách viết tên tự do lên khắp nơi khắp chốn (11 khổ đầu) và suốt đời gắn bó với tự do (khổ cuối).

e. Giá trị nội dung
– “Tự do” thể hiện tình yêu tự do tha thiết tuôn trào trong trái tim nhà thơ đã đồng vọng trong tâm hồn cả dân tộc. Khát khao tự do biến thành khát khao hành động để giành lấy tự do cho tất cả mọi người.

g. Giá trị nghệ thuật
– Sử dụng các biện pháp nghệ thuật như: trùng điệp, thủ pháp liệt kê hình ảnh, nhân hóa, lặp từ ngữ, cấu trúc…qua các khổ thơ.
– Mạch cảm xúc hướng tuôn trào, triền miên, mạnh mẽ. Hình thức thể hiện đặc biệt với tầng lớp hình ảnh lặp lại, chồng lên nhau, nối tiếp nhau.
– Hình thức nhân hóa TỰ DO thành một nhân vật có linh hồn thực sự, giàu biểu cảm “em”, tạo cách nói gần gũi nhưng cũng thiêng liêng, sâu sa.

Câu 1 (trang 173, sgk Ngữ văn 12, tập 1)

Những hình ảnh được liệt kê trong bài thơ là những hình ảnh giản dị, gần gũi, chân thực trong cuộc sống. Tuy nhiên, việc sử dụng hình ảnh này không làm mất đi sự thiêng liêng của tự do mà ngược lại nó làm cho Tự Do được mở rộng ra nhiều nghĩa: Tự Do hóa thân vào mọi nơi, mọi chỗ và hóa thân vào cuộc sống


Câu 2 (trang 173, sgk Ngữ văn 12, tập 1)

– Kiểu kết cấu “Tôi viết tên em” của mỗi khổ thơ: tạo nhạc điệu cho bài thơ và để tác giả nhấn mạnh tình yêu tự do của mình.

– Cách lặp từ theo kiểu xoáy tròn: tạo nhạc điệu cho bài thơ, nhấn mạnh sự lan tỏa triền miên, không dứt của cảm giác tự do và khát vọng hạnh phúc

– Cách sử dụng đại từ “em”: dùng em để gọi tự do, qua đó, tác giả cho thấy tình yêu tha thiết, chân thành của mình đối với tự do

Câu 3 (trang 173, sgk Ngữ văn 12, tập 1)

– Giới từ “trên” báo hiệu trạng ngữ chỉ địa điểm: địa điểm cụ thể (trang vở, bàn học, đất cát,…) hay địa điểm trừu tượng (thời thơ ấu, điều huyền diệu đêm đêm,…)

– Giới từ “trên” chỉ thời gian


Câu 4 (trang 173, sgk Ngữ văn 12, tập 1)

Tính chất thánh ca của bài thơ:

– Tự do được viết lên ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi khoảng không gian và thời gian

– Tự Do gắn với những điều giản dị, đời thường trong cuộc sống của mỗi người

– Tự do là khát khao cháy bỏng, chân thành và mãnh liệt luôn tồn tại trong mỗi con người

Nội dung chính của văn bản

– Nội dung: bài thơ ca ngợi tinh thần tự do và niềm say mê tự do một cách mãnh liệt của tác giả

– Nghệ thuật: thể thơ tự do, hình ảnh thơ giản dị, kết cấu trùng điệp,…

Bài soạn “Tự do” của P.Ê-luy-a số 6

I. Tìm hiểu bài thơ

1. Tìm hiểu chủ đề, cách liệt kê các hình ảnh trong bài thơ.
– Chủ đề bài thơ là khúc ca ca ngợi tự do và bày tỏ khát vọng, sự say mê của tác giả và hàng triệu con người đối với tự do.
– Cách liệt kê hình ảnh, lặp ngữ, tạo ra một kết cấu trùng điệp phù hợp với điệp khúc ca ngợi tự do.
– Tự do – từ một đối tượng trừu tượng nhưng trong bài thơ đã được nhân hoá thành một nhân vật có linh hồn thực sự.

2. Tìm hiểu kết cấu “Tôi viết tên em” ở mỗi khổ thơ cách lặp từ theo lối “xoáy tròn” và nhạc điệu bài thơ cách sử dụng đại từ “em” trong bài thơ?.
a. Nghệ thuật tạo câu trùng điệp: “Tôi viết tên em”
– Tạo nhạc điệu cho bài thơ. Người đọc liên tưởng tới những nốt nhấn của một bản giao hưởng. Nó dội vào lòng người nghe, nó khắc sâu vào tâm trí, đồng thời sự lặp lại tạo ra điệp khúc.
– Sự lặp lại nhiều lần gợi một niềm tin vững chắc, một sự khẳng định chắc chắn, vững bền không thể đổi thay.
– Những lời tự nhủ, những lời khắc cốt ghi tâm ấy cũng chính là cách để nhà thơ thể hiện sự tôn thờ, đề cao tự do.
Đó là khát khao mãnh liệt của tác giả để vươn tới tự do.
Cách lặp từ theo kiểu xoáy tròn “trên – trên” có 7 tác dụng:
+ Tạo nhạc điệu, điểm nhấn cho bài thơ
+ Là cách thức tối ưu để tác giả bày tỏ tình yêu của mình với tự do

3. So sánh từ “trên” được sử dụng nhiều lần với ý nghĩa chỉ không gian và thời gian
– Giới từ “Trên” báo hiệu trạng ngữ chỉ địa điểm:
+ Địa điểm cụ thể, hữu hình: trang vở, bàn học, đất cát, tuyết, mũ áo vua quan…
+ Địa điểm trừu tượng: thời thơ ấu, điều huyền diệu đêm đêm, các mùa, những mảnh trời trong xanh, những khoảnh khắc hừng đông…
– Tự do không chỉ được gắn với những vật cụ thể đang hiện hữu mà hiện diện trong không gian mà “tôi” chiếm lĩnh ngự trị. Nó hiện diện trong giấc mơ, trong trí tưởng tượng, trong hồi ức và trong tất cả những gì không thể cảm nhận bằng trực giác thông thường.
– Giới từ “trên” chỉ thời gian (trên = khi, lúc). Trường phái siêu thực không phân biệt ranh giới rõ rệt giữa không gian, thời gian.

4. Câu thơ “Tôi viết tên em” được lặp lại trong từng khổ thơ, “tôi” có thể là tác giả và cũng có thể là những độc giả, “viết” có thể là ghi, chép, hành động. Hãy suy luận để chỉ ra tính chất “Thánh ca” của bài thơ này trong cuộc kháng chiến chống phát xít Đức.
“Tôi viết tên em” khi đang tuổi ấu thơ, ban đêm, ba ngày, lúc hửng đông, lúc đêm tối, khi ở ngoài đại dương mênh mông hay trên núi cao hiểm trở, lúc bão giông hay khi bình yên…
Dù ở nét nghĩa nào thì “tôi” đều biểu hiện tự do cháy bỏng, mãnh liệt. “Tôi” đã bị thu phục hoàn toàn bởi “em”. “Em” (tự do) đã ngự trị “tôi” chiếm trọn không gian của “tôi”, chiếm hết thời gian của “tôi” và suy nghĩ hành động của “tôi” luôn hướng về “em”.
Với cấu trúc và suy luận như vậy, bài thơ giống như lời của một bản trường ca, một khúc hát dài ca ngợi và kêu gọi tự do.
Đặt trong hoàn cảnh nước Pháp bị phát xít Đức xâm lược, nhân dân bị mất tự do, tác phẩm trở thành bài “Thánh ca”, kêu gọi nhân dân Pháp đấu tranh vì tự do, giải phóng đất nước.


II. Trả lời câu hỏi

Câu 1 (trang 173 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Đoạn trích lược bớt một số khổ thơ, còn 12 khổ và dòng cuối, 11 khổ thơ có điệp câu thơ “tôi viết tên em” riêng khổ thơ cuối được thay thế bởi “Để gọi tên em/ TỰ DO”

– Tự do được hóa thân thành “em”, người thân yêu nhất

+ Cảm xúc hướng về sự tự do tha thiết, nhà thơ viết tên tự do lên mọi nơi

+ Thể hiện quyết tâm, hành động hướng tới, dành và bảo vệ tự do

+ Nhà thơ sẵn sàng bắt đầu lại cuộc đời để được gắn với Tự Do

– Chủ đề bài thơ cũng thể hiện được tình yêu của tác giả đối với tự do


Câu 2 (Trang 173 sgk ngữ văn 12 tập 1):

– Kết cấu lặp từ theo lối xoáy tròn “trên- trên”:

+ Tạo nhạc điệu nốt nhấn cho bài thơ

+ Là cách thức tối ưu để tác giả bày tỏ tình yêu của mình với tự do

– Giới từ “trên” là giới từ báo hiệu trạng ngữ chỉ địa điểm:

+ Giới từ “trên” xuất hiện nhiều lần trải dài liên tiếp trong toàn bộ bài thơ:

+ Địa điểm mang tính trừu tượng: thời thơ ấu, điều huyền diệu đêm đêm, các mùa, những mảnh trời trong xanh, khoảnh khắc hừng đông…

Tự do không chỉ được gắn với những vật cụ thể hiện hữu mà còn hiện diện trong mọi không gian mà tôi ngự trị. Nó hiện diện trong mơ, trong trí tưởng tượng trong hồi ức và trong tất cả những gì không thể cảm nhận bằng trực giác thông thường

Câu 3 (Trang 173 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Giới từ “trân” thể hiện được không gian và thời gian

+ Địa điểm- không gian (viết ở đâu, vào đâu)

+ Chỉ thời gian (tự do viết khi nào)

– Cách thức liên tưởng: hình ảnh trong các khổ thơ thể hiện sự liên tưởng ngẫu hứng (viết mọi nơi, mọi lúc)

+ Viết tự do lên những vật hữu hình, cụ thể

+ Viết tự do lên những thứ trừu tượng, vô hình

→ Khát vọng Tự do hóa thân khắp không gian, xuyên suốt thời gian, hiện hữu trong cuộc đời mỗi người

Câu 4 (Trang 173 sgk ngữ văn 12 tập 1):

– Viết tự do lên mọi lúc, mọi nơi: ban đêm, ban ngày, lúc hửng đông, lúc đêm tối, khi ngoài đại dương mênh mông, nơi núi cao hiểm trở, lúc giông bão, khi bình yên..

– Tôi khao khát tự do đến cháy bỏng, mãnh liệt, vì vậy vị trí của “em” trở nên quan trọng, luôn ngự trị, chiếm trọn thời gian và suy nghĩ hành động của “tôi”

– Với cấu trúc và sự suy luận, bài thơ giống như bản trường ca, khúc hát dài kêu gọi tự do, tác phẩm trở thành bài ca kêu gọi nhân dân Pháp đấu tranh cho tự do

Bài soạn “Tự do” của P.Ê-luy-a số 4

I. Tác giả
– Pôn Ê-luy-a (1895 – 1952) là nhà thơ lớn nước Pháp.
– Năm 1919, ông từng tham gia trào lưu siêu thực.
– Thời kì này, các tác phẩm của ông thường mang nội dung chống chiến tranh đế quốc và giàu tính nhân đạo.
– Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, ông thoát li hẳn trào lưu siêu thực, tham gia mặt trận chống chủ nghĩa phát xít.
– Thơ ông không chú trọng xây dựng các hình ảnh như thơ truyền thống mà hàm chứa suy luận trữ tình triết lí, mang đậm chất trữ tình chính trị và hơi thở của thời đại.

II. Tác phẩm
– Bài thơ Tự do được viết vào mùa hè năm 1941, trong thời kì nước Pháp bị quân đội phát xít Đức xâm lược, in trong tập Thơ ca và chân lí, 1942 (1942) và được coi là thánh ca của thơ ca kháng chiến Pháp.
– Nội dung chính: Khát vọng tự do cháy bỏng của nhà thơ (và của cả dân tộc Pháp) khi đất nước bị xâm lăng.
– Bố cục: Bài thơ gồm 21 khổ thơ, không kể dòng cuối cùng chỉ là chữ Tự do (được viết hoa). Mỗi khổ bốn câu, ba câu đầu viết theo thể thơ bảy âm tiết, câu thứ tư (cũng là điệp khúc của toàn bài) chỉ có bốn âm tiết. Nguyên bản bài thơ không có vần, không có các dấu chấm câu, trừ dấu chấm hết cuối bài.

III. Trả lời câu hỏi
Bài 1 trang 173 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Đọc kĩ bài Tự do để hiểu chủ đề tác phẩm. Tìm hiểu cách liệt kê các hình ảnh trong bài thơ (chú ý tính chất hình ảnh thị giác).

Trả lời:

– Chủ đề bài thơ là khúc ca ca ngợi tự do và bày tỏ khát vọng, sự say mê của tác giả và hàng triệu con người đối với tự do.

– Cách liệt kê các hình ảnh: mỗi khổ thơ đều xuất hiện liên tiếp các hình ảnh thu được bằng thị giác như trang vở, bàn học, cây xanh, đất cát, tuyết, trang sách, tro tàn, gươm đao, mũ áo , sa mạc, rừng hoang, tổ chim, hoa trái, khoanh bánh trắng, trời xanh, vầng trăng, tàu thuyền…, bằng cảm giác về màu sắc (trời trong xanh, khoanh bánh trắng, rực vàng son) không theo trật tự hay logic nào.

=> Những hình ảnh được liệt kê trong bài thơ là những hình ảnh giản dị, gần gũi, chân thực trong cuộc sống. Tuy nhiên, việc sử dụng hình ảnh này không làm mất đi sự thiêng liêng của tự do mà ngược lại nó làm cho Tự Do được mở rộng ra nhiều nghĩa: Tự Do hóa thân vào mọi nơi, mọi chỗ và hóa thân vào cuộc sống.


Bài 2 trang 173 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Tìm hiểu câu kết “Tôi viết tên em” của mỗi khổ thơ, cách lặp từ theo kiểu “xoáy tròn” (Trên…trên…) và nhạc điệu bài thơ. Phân tích cách sử dụng đại từ “em”.

Trả lời:

* Nghệ thuật tạo câu trùng điệp: “Tôi viết tên em”

– Tạo nhạc điệu cho bài thơ. Người đọc liên tưởng tới những nốt nhấn của một bản giao hưởng. Nó dội vào lòng người nghe, nó khắc sâu vào tâm trí, đồng thời sự lặp lại tạo ra điệp khúc.

– Sự lặp lại nhiều lần gợi một niềm tin vững chắc, một sự khẳng định chắc chắn, vững bền không thể đổi thay.

– Những lời tự nhủ, những lời khắc cốt ghi tâm ấy cũng chính là cách để nhà thơ thể hiện sự tôn thờ, đề cao tự do.

=> Đó là khát khao mãnh liệt của tác giả để vươn tới tự do.

* Cách lặp từ theo kiểu xoáy tròn “Trên … trên…” có tác dụng:

+ Tạo nhạc điệu, điểm nhấn cho bài thơ

+ Là cách thức tối ưu để tác giả bày tỏ tình yêu của mình với tự do

Bài 3 trang 173 SGK Ngữ văn 12 tập 1

So sánh ý nghĩa của từ “trên” được sử dụng nhiều lần trong bài để chỉ không gian và thời gian.

Trả lời:

– Giới từ “Trên” báo hiệu trạng ngữ chỉ địa điểm:

+ Địa điểm cụ thể, hữu hình: trang vở, bàn học, đất cát, tuyết, mũ áo vua quan…

+ Địa điểm trừu tượng: thời thơ ấu, điều huyền diệu đêm đêm, các mùa, những mảnh trời trong xanh, những khoảnh khắc hừng đông…

– Tự do không chỉ được gắn với những vật cụ thể đang hiện hữu mà còn hiện diện trong không gian “tôi” chiếm lĩnh ngự trị. Nó hiện diện trong giấc mơ, trong trí tưởng tượng, trong hồi ức và trong tất cả những gì không thể cảm nhận bằng trực giác thông thường.

– Giới từ “trên” chỉ thời gian (trên = khi, lúc). Trường phái siêu thực không phân biệt ranh giới rõ rệt giữa không gian, thời gian.

Bài 4 trang 173 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Trong câu thơ “Tôi viết tên em” được lặp đi lặp lại, “tôi” có thể là tác giả và cũng có thể là những độc giả của bài thơ, “viết” có thể hiểu là “ghi, chép”, có thể hiểu là “hành động”. Từ đó hãy suy luận để chỉ ra tính chất thánh ca của bài thơ này trong cuộc kháng chiến chống phát xít Đức.

Trả lời:

“Tôi viết tên em” khi đang tuổi ấu thơ, ban đêm, ban ngày, lúc hửng đông, lúc đêm tối, khi ở ngoài đại dương mênh mông hay trên núi cao hiểm trở, lúc bão giông hay khi bình yên…

Dù ở nét nghĩa nào thì “tôi” đều biểu hiện sự tự do cháy bỏng, mãnh liệt. “Tôi” đã bị thu phục hoàn toàn bởi “em”. “Em” (tự do) đã ngự trị “tôi” chiếm trọn không gian của “tôi”, chiếm hết thời gian của “tôi” và suy nghĩ hành động của “tôi” luôn hướng về “em”.

Với cấu trúc và suy luận như vậy, bài thơ giống như lời của một bản trường ca, một khúc hát dài ca ngợi và kêu gọi tự do.

Đặt trong hoàn cảnh nước Pháp bị phát xít Đức xâm lược, nhân dân bị mất tự do, tác phẩm trở thành bài “thánh ca” kêu gọi nhân dân Pháp đấu tranh vì tự do, giải phóng đất nước.


Tổng kết

Bài thơ Tự do nêu lên khát vọng tự do và lời kêu gọi hành động vì tự do của tác giả, kêu gọi nhân dân nước Pháp đồng lòng vì một lí tưởng chung. Bài thơ được xem là thánh ca của thơ kháng chiến Pháp với lí tưởng không thể cam chịu sống như một kẻ nô lệ, một kiếp sống lầm than cơ cực dưới bóng của phát xít Đức.

Bài soạn “Tự do” của P.Ê-luy-a số 5

I. Tác giả:

– Pôn Ê-luy-a (1895-1952) là nhà thơ lớn nước Pháp.

– Từng tham gia trào lưu siêu thực. Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, ông thoát ly chủ nghĩa siêu thực, cùng nhân dân Pháp kháng chiến chống chủ nghĩa phát xít.

– Thơ ông mang đậm chất trữ tình chính trị, mang đậm hơi thở của thời đại.


II. Bài thơ “Tự do”:

Được viết vào mùa hè 1941, trong lúc nước Pháp đang bị phát xít Đức xâm lược, in trong tập “Thơ ca và chân lý, 1942” (1942).

– Bài thơ được coi là kiệt tác, là thánh ca của thơ ca kháng chiến Pháp.

1.Chủ đề bài thơ.

– Em = Tự do (Tự do nhân hóa thành em– cách nói tha thiết, gần gũi nhưng cũng rất thiêng liêng, sâu xa).

Chủ đề: Khát vọng tự do cháy bỏng của nhà thơ (và của cả dân tộc Pháp) khi đất nước bị xâm lăng.


2. Những điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật :

a, Kết cấu bài thơ:

– Lặp kết cấu, cú pháp: 11/12 khổ thơ dịch (tương ứng 20/21 khổ thơ nguyên tác) lặp lại: “Trên … trên …Tôi viết tên em”.

– Điệp từ “trên” theo kiểu “xoáy tròn”->Hiệu quả nghệ thuật: Mạch cảm xúc hướng về tự do tuôn trào, triền miên, mạnh mẽ của những nô lệ rên xiết dưới ách phát xít.

b, Không gian, thời gian biểu hiện Tự Do và cách thức liên tưởng .

– Từ “trên” thể hiện cả không gian và thời gian:

+ Chỉ địa điểm – không gian( tôi viết Tự Do ở đâu, vào đâu)

+ Chỉ thời gian ( tôi viết Tự Do khi nào)

-Cách thức liên tưởng: Hình ảnh trong các khổ thơ thể hiện sự liên tưởng ngẫu hứng (Tự Do được viết mọi nơi, mọi lúc):

+ Viết tên em- Tự Do lên những vật cụ thể, hữu hình .

+ Viết tên em – Tự Do lên những cái trừu tượng, vô hình-> Khát vọng Tự Do hoá thân khắp không gian, xuyên suốt thời gian, hiện hữu trong cuộc đời mỗi con người.

III. Kết luận.

– Tình yêu tự do tha thiết tuôn trào trong trái tim nhà thơ đã đồng vọng trong tâm hồn cả dân tộc;Khát khao tự do biến thành khát khao hành động để giành lấy tự do cho tất cả mọi người.– Vì thế, bài thơ được xem là thánh ca của thơ kháng chiến Pháp.


III. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 173 sgk Văn 12 Tập 1):

– Chủ đề tác phẩm: Khát vọng tự do, khát vọng tự do cũng là lời kêu gọi hành động vì tự do của nhà thơ (và của cả dân tộc Pháp) khi đất nước bị phát xít xâm lăng.

– Hình ảnh trong bài thơ: giản dị lấy từ cuộc sống, bao gồm cả hình ảnh hữu hình và vô hình

+ Hữu hình: Viết trên trang vở, trên bàn học, trên cây xanh, trên đất cát, trên tuyết, trên gươm đao người lính, trên mũ áo các vua quan.

+ Vô hình: Viết trên thời thơ ấu âm vang, viết trên những mảnh đời trong xanh, trên ao mặt trời ẩm mốc, viết trên hồ vầng trăng lung linh…


Câu 2 (trang 173 sgk Văn 12 Tập 1):

– Tôi gọi tên em

– Tự Do.

+ Tự do – sức mạnh nhiệm màu.

+ Tự do – tái sinh những cuộc đời

→ Tình yêu tự do cũng là lời kêu gọi hy sinh vì tự do.

– Nghệ thuật trùng điệp thủ pháp liệt kê, nhân hóa, lặp từ ngữ, cấu trúc … qua các khổ thơ. Tạo nên nhạc điệu thơ gợi mạch cảm xúc hướng về tự do tuôn trào, triền miên, mạnh mẽ.

Câu 3 (trang 173 sgk Văn 12 Tập 1):

– Từ “trên” thể hiện cả không gian và thời gian:

+ Chỉ địa điểm – không gian (ở đâu, vào đâu)

+ Chỉ thời gian ( tôi viết Tự Do khi nào)

– Tôi viết tên em lên mọi không gian bao la, lên mọi thời gian; Viết tên em lên những vật cụ thể hữu hình và cả những cái vô hình.

→ Hình ảnh được liên tưởng ngẫu hứng. Tình yêu, khát vọng tự do cháy bỏng của nhà thơ

Câu 4 (trang 173 sgk Văn 12 Tập 1):

– Bài thơ được xem là thánh ca của thơ kháng chiến Pháp. Trước hết đó là tình yêu tự do tha thiết tuôn trào trong chính trái tim nhà thơ, Êluya đã viết lên một bài thơ xúc động truyền khao khát tự do, khao khát hành động để giảnh lấy tự do mang đến cho tất cả mọi người.

– Bài thơ được in ra và phổ biến rộng khắp như truyền đơn kêu gọi tinh thần quyết tâm kháng chiến của nhân dân để có được tự do.

Bài Viết Bạn Nên Xem

Trả lời

Back to top button