Top 6 Bài soạn Nhưng nó phải bằng hai mày (Ngữ Văn 10) hay nhất

Trong chương trình Ngữ Văn 10, với bài học Nhưng nó phải bằng hai mày, học sinh cần soạn như thế nào? Dưới đây, danh sách đã sưu tầm và tổng hợp được những bài soạn Nhưng nó phải bằng hai mày dành cho các bạn học sinh lớp 10 cùng tham khảo.

Bài soạn tham khảo số 1

Câu 1 (trang 80 sgk Ngữ văn 10 tập 1)

– Quan hệ giữa Cải và thầy lí: đã được sắp đặt trước khi Cải hối lộ thầy lí 5 đồng, Cải ung dung nghĩ mình thắng kiện tuy nhiên khi xử kiện Cải bị phạt mười roi.

– Sự độc đáo, tính hài hước của truyện sự kết hợp lời nói với hành động (Nhưng nó lại phải bằng hai mày- thầy lý xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay phải) => Mối quan hệ logic được người đọc nhìn nhận ra: giữa lẽ phải, những ngón tay và tiền tạo ra tiếng cười

=> Ý nghĩa tố cáo của truyện: lẽ phải được mua bằng tiền, càng nhiều tiền thì lẽ phải thuộc về người đó.


Câu 2 (trang 80 sgk Ngữ văn 10 tập 1): Nghệ thuật gây cười ở cuối truyện nằm ở việc:

– Lời nói của thầy Lí có sự đồng nhất giữa “lẽ phải” với số tiền nhận hối lộ, lẽ phải có thể đong đếm được
+ Thầy lí nhận hối lộ nhưng vẫn trơ trẽn úp bàn tay trái lên bàn tay phải biện minh cho hành động nhận đút lót.

– Xây dựng tình huống gây cười đặc sắc: Cải đút lót tiền mà vẫn bị bị đánh, thầy lí đánh đòn

– Truyện tạo ra tiếng cười sảng khoái khi kết truyện có cả ngôn ngữ nói và cả hành động của thầy lý:

+ Chi tiết thâm thúy, sâu cay khi cười vào thứ được coi là công lí của chính quyền phong kiến trước kia ở nông thôn.


Câu 3 (Trang 80 sgk Ngữ văn 10 tập 1)

Nhân vật Ngô và Cải:

+ Là những người nông dân tội nghiệp, đáng thương

+ Họ đánh nhau nhưng không chịu nhận sai lại muốn đổ tội cho nhau nên đều đút lót cho thầy lí

+ Nhân vật Cải: vừa đáng thương lại vừa đáng trách – đáng thương khi đã hối lộ mà vẫn bị ăn đòn, đáng trách là vì đã tiếp tay cho thói tham lam của quan lí.

+ Nhân vật Ngô: mất tiền, lâm vào kiện cáo

→ Tựu chung họ vừa đáng thương, vừa đáng trách.


Luyện tập

Đặc trưng của truyện cười thông qua hai truyện Nhưng nó phải bằng hai mày và Tam đại con gà:

– Nội dung: thường châm biếm, chế giễu thói hư tật xấu trong một bộ phận người. Tạo mâu thuẫn trái tự nhiên để gây cười.

+ Truyện Tam đại con gà chế giễu thầy đồ dốt nát nhưng huênh hoang, ngụy biện

+ Truyện Nhưng nó phải bằng hai mày tố đả kích thói tham những của bọn quan tham thời xưa

– Nghệ thuật tạo tiếng cười:

+ Kết cấu truyện ngắn gọn, mạch lạc, logic, mâu thuẫn được đẩy lên đỉnh điểm tạo tiếng cười

+ Mâu thuẫn trong truyện Tam đại con gà là sự dốt nát được che đậy, biện mình

+ Truyện Nhưng nó phải bằng hai mày: việc phân xử, công lý được đong đếm bằng tiền.

Bài soạn tham khảo số 2

Câu 1 (trang 80 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

a. Mối quan hệ giữa Cải và thầy lí trước khi xử kiện là mối quan hệ đã được xếp đặt sẵn (Cải đã lót tiền trước cho thầy lí năm đồng).

b.

– Cải ung dung nghĩ mình thắng kiện, tuy nhiên thầy lí xử Cải bị phạt mười roi.

– Thầy lí:

+ Hành động: Xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay phải.

+ Lời nói: “tao biết mày phải…nhưng nó lại phải…bằng hai mày”.


Câu 2 (trang 80 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

Nghệ thuật gây cười qua lời nói của thầy lí ở cuối truyện: thầy lí xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay phải.

=> Sợi dây liên hệ thông suốt giữa: lẽ phải – những ngón tay và những đồng tiền.

=> Ý nghĩa tố cáo của truyện: đồng tiền đo lẽ phải, tiền nhiều lẽ phải nhiều, tiền ít lẽ phải ít.


Câu 3 (trang 80 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

Nhân vật Cải và Ngô:

– Là những người nông dân tội nghiệp, vừa đáng thương vừa đáng trách.

– Là nạn nhân của chế độ phong kiến.

Luyện tập

Đặc trưng của truyện cười thông qua hai truyện Nhưng nó phải bằng hai mày và Tam đại con gà:

Tam đại con gà – Mâu thuẫn gây cười: thầy đồ dốt nát nhưng huênh hoang, ngụy biện.
Nhưng nó phải bằng hai mày – Mâu thuẫn gây cười: việc phân xử, công lí được đong đếm bằng tiền.
=> Nội dung truyện cười: thường châm biếm, chế giễu thói hư tật xấu trong một bộ phận người.

=> Nghệ thuật tạo tiếng cười: chứa đựng mâu thuẫn trái tự nhiên, kết cấu truyện ngắn gọn, mạch lạc, logic, mâu thuẫn được đẩy lên đỉnh điểm tạo tiếng cười.

Bài soạn tham khảo số 3

Câu 1 (trang 80 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

a. Quan hệ giữa Cải và thầy lí trước khi xử kiện là mối quan hệ đã được dàn xếp (Cải đã lót tiền trước cho thầy lí năm đồng). Cải cứ nghĩ là quan sẽ cho mình được thắng kiện nên rất ung dung. Tuy nhiên không ngờ khi xử kiện, Cải lại bị thầy lí tuyên bố đánh mười roi. Cải từ thế chủ động chuyển hoàn toàn sang bị động nên đành chịu đòn.

b. Sự độc đáo của câu chuyện chính là sự kết hợp giữa hai thứ “ngôn ngữ”. Ngôn ngữ bằng lời nói (ngôn ngữ công khai), nói cho tất cả những người có mặt ở đó nghe. Nhưng thứ “ngôn ngữ” bằng động tác thì chỉ có thầy lí và Cải mới hiểu được.

+ Lẽ phải – Cải xòe năm ngón tay.

+ Lẽ phải được nhân đôi – thầy lí xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay phải

=> Ý nghĩa tố cáo của truyện chính là: lẽ phải đối với người xử kiện được tính bằng tiền. Đồng tiền đo lẽ phải, tiền càng nhiều thì lẽ phải càng nhiều. Đặc biệt hơn, thầy lí dùng năm ngón tay trái đập vào năm ngón tay phải – hình ảnh ẩn dụ cho việc cái sai trái úp lên cái phải, cái đúng và ở đây cái phải bị che mất.

Câu 2 (trang 80 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
Khi Cải khăng khăng “xin xét lại, lẽ phải về con mà!”, thầy lí đã không hề phủ nhận điều đó nhưng thầy đưa ra lí lẽ “Tao biết mày phải… nhưng nó lại phải…. bằng hai mày!”. Tiếng cười bật ra từ đó. Đối với thầy lí, lẽ phải được đo bằng tiền. Tiền quyết định lẽ phải. Bởi thế năm đồng là “lẽ phải” nhưng mười đồng là “lẽ phải gấp đôi”.


Câu 3 (trang 80 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

Nhân vật bị thất bại trong vụ kiện là nhân vật Cải. Cải bị bất ngờ nên không kịp trở tay vì thế mà bị rơi vào tình trạng thảm hại (vừa mất tiền lại vừa bị đánh). Thế nhưng câu chuyện chính là lời phê phán cả hai nhân vật. Sự tham lam của bọn quan lại sẽ càng ngày càng tráo trở hơn nếu còn có những người như Ngô và Cải. Hành vi tiêu cực của chính họ là nguyên nhân làm cho họ trở nên thảm hại. Trong sự việc này, họ là những kẻ đáng thương nhưng cũng là những người đáng giận.


Luyện tập

Có thể thấy rõ đặc trưng thể loại của truyện cười qua việc phân tích lời nói và hành động của nhân vật trong hai truyện Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày.

a. Đối với truyện Tam đại con gà (phân tích ở bài trước)

b. Đối với truyện “Nhưng nó phải bằng hai mày”

– Hành động của nhân vật Cải và Ngô: hai người đều tìm cách đút lót trước cho thầy lí mà không rõ hành động của người kia.

– Thầy lí tham lam nên nhận tiền của cả hai người.

– Lời nói hài ước của các nhân vật: ” Xin xét lại, lẽ phải về con mà!”(Cải nói). “Tao biết mày phải…nhưng nó lại phải…bằng hai mày!” (lời đáp của thầy lí)

c. Từ hai truyện trên, có thể khái quát mấy đặc trưng chung của thể loại truyện cười:

– Khai thác những sự việc, hành vi, thói hư tật xấu của một bộ phận đối tượng trong dân gian.

– Chứa đựng những mâu thuẫn trái quy luật tự nhiên và tiềm ẩn những yếu tố gây cười.

– Dung lượng ngắn, kết chặt chẽ và kết thúc bằng những sự việc hoặc liên tưởng bất ngờ.

Bài soạn tham khảo số 4

Câu 1 (trang 80 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

a. Quan hệ giữa hai nhân vật

– Mối quan hệ giữa Cải và thầy lí trước khi xử kiện là mối quan hệ đã được xếp đặt: Cải ung dung nghĩ sẽ thắng kiện, không ngờ khi xử kiện, Cải lại bị thầy lí tuyên bố đánh mười roi.

b. Sự độc đáo, tính hài hước của truyện sự kết hợp lời nói với hành động

– Ngôn ngữ ngầm bằng động tác thì chỉ có thầy lí và Cải mới hiểu.

– Nếu Cải xòe ra năm ngón tay và “ngầm” ra hiệu với thầy lí đó là “lẽ phải” thì thầy lí đã đáp lời nhanh chóng bằng việc xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, ý nói “lẽ phải” kia đã được nhân đôi


Câu 2 (trang 80 sgk Ngữ văn 10 Tập 1): Nghệ thuật gây cười qua lời nói của thầy lí ở cuối truyện

– Tiếng cười bật ra từ việc lẽ phải được đo bằng tiền.

– Thầy lí không phủ nhận cái phải của Cải nhưng tiếc rằng cái phải của Cải lại không bằng của Ngô.


Câu 3 (trang 80 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

– Nhân vật Ngô và Cải: vừa đáng tội nghiệp lại vừa đáng trách.

+ Họ là những người nông dân bình thường, tội nghiệp, đáng thương.

+ Họ cũng là những người đáng trách vì chủ động dùng tiền mua lẽ phải


LUYỆN TẬP (trang 80 sgk Ngữ văn 10 Tập 1)

Đặc trưng của thể loại truyện cười

– Nội dung: thường châm biếm, chế giễu thói hư tật xấu trong một bộ phận người.

+ Truyện Tam đại con gà chế giễu thói dấu dốt của thầy đồ

+ Truyện Nhưng nó phải bằng hai mày tố đả kích thói tham những của bọn quan tham thời xưa

– Nghệ thuật tạo tiếng cười:

+ Kết cấu truyện ngắn gọn, mạch lạc, logic,

+ Tạo mâu thuẫn trái tự nhiên, đẩy lên đỉnh điểm tạo tiếng cười

Bài soạn tham khảo số 5

Câu 1 (trang 80 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

a. Mối quan hệ giữa Cải và thầy lí trước khi xử kiện là mối quan hệ đã được xếp đặt. Cải cứ nghĩ là quan sẽ cho mình được kiện nên rất ung dung. Tuy nhiên không ngờ khi xử kiện, Cải lại bị thầy lí tuyên bố đánh mười roi.

b. Ngôn ngữ bằng lời nói là ngôn ngữ công khai, tất cả những người đều được biết. Nhưng “ngôn ngữ” ngầm bằng động tác thì chỉ có thầy lí và Cải mới hiểu. Nếu Cải xòe ra năm ngón tay và “ngầm” ra hiệu với thầy lí đó là “lẽ phải” thì thầy lí đã đáp lời nhanh chóng bằng việc xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, ý nói “lẽ phải” kia đã được nhân đôi.

Câu 2 (trang 80 GK Ngữ văn 10 tập 1)

– Khi Cải khăng khăng “xin xét lại, lẽ phải về con mà!”, thầy lí đã không hề phủ nhận điều đó nhưng thầy đưa ra lí lẽ “Tao biết mày phải… nhưng nó lại phải…. bằng hai mày!”. Tiếng cười bật ra từ đó. Đối với thầy lí, lẽ phải được đo bằng tiền. Tiền quyết định lẽ phải. Bởi thế năm đồng là “lẽ phải” nhưng mười đồng là “lẽ phải gấp đôi”.

Câu 3 (trang 80 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

– Đánh giá về nhân vật Ngô và Cải: Nhân vật bị thất bại trong vụ kiện là nhân vật Cải. Cải bị bất ngờ nên không kịp trở tay vì thế mà bị rơi vào tình trạng thảm hại (vừa mất tiền lại vừa bị đánh). Thế nhưng câu chuyện chính là lời phê phán cả hai nhân vật. Sự tham lam của bọn quan lại sẽ càng ngày càng tráo trở hơn nếu còn có những người như Ngô và Cải.

=> Họ là những người vừa đáng thương, vừa đáng trách.

Luyện tập

Câu hỏi (trang 80 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

Đặc trưng của truyện cười:

– Nội dung: Thường châm biếm, chế giễu những thói hư, tật xấu trong nội bộ nhân dân, hoặc đả kích những thói hư khác trong xã hội.

+ Truyện “Tam đại con gà” chế giễu thầy đồ dốt nát nhưng lại sĩ diện hão.

+ Truyện “Nhưng nó phải bằng hai mày” đả kích thói tham nhũng của bọn tham quan ô lại trong xã hội cũ.

– Nghệ thuật: Truyện cười thường tạo ra những mâu thuẫn trái với tự nhiên để gây cười.

+ Truyện “Tam đại con gà” tạo ra mâu thuẫn giữa sự dốt nát (bên trong) với cái làm ra vẻ ta đây là giỏi (bên ngoài) của thầy đồ.

+ Truyện “Nhưng nó phải bằng hai mày” tạo ra mâu thuẫn là việc phân xử phải trái lại được “đo, đếm” như đốì với đồng tiền.

Tóm tắt

Cải và Ngô đánh nhau, rồi mang nhau đi kiện. Cải lót trước cho thày lí năm đồng, Ngô biện những mười đồng. Khi xử kiện, Cải bị phạt chịu roi. Nó vội xoè năm ngón tay cho ra hiệu cho thày lí rằng mình là phải. Thầy lí cũng xoè năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, nói: “…Nhưng… nó lại phải… bằng hai mày!”.

Nội dung chính

Thấy được thái độ của nhân dân với bản chất tham nhũng của quan lại địa phương và tình cảnh bi hài của người lao động lâm vào việc kiện tụng trong xã hội nông thôn Việt Nam xưa.

Bài soạn tham khảo số 6

Câu 1 (trang 80 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

Phân tích tính kịch trong đoạn: “Cải vôi xòe năm ngón tay… bằng hai mày”.

Lời giải chi tiết:

– Mối quan hệ giữa Cải và thầy lí trước khi xử kiện là mối quan hệ đã được xếp đặt rồi (Cải đã lót tiền trước cho thầy lí năm đồng). Cải cứ nghĩ là quan sẽ cho mình được kiện nên rất ung dung. Tuy nhiên không ngờ khi xử kiện, Cải lại bị thầy lí tuyên bố đánh mười roi. Cải từ thế chủ động chuyển hoàn toàn sang bị động và không thể nói tiếp được lời nào.

– Sự độc đáo của câu chuyện chính là sự kết hợp giữa hai thứ “ngôn ngữ”. Ngôn ngữ bằng lời nói là ngôn ngữ công khai, nói cho tất cả những người có mặt ở đó nghe. Nhưng thứ “ngôn ngữ” bằng động tác thì chỉ có thầy lí và Cải mới hiểu được. Nếu Cải xòe ra năm ngón tay và “ngầm” ra hiệu với thầy lí đó là “lẽ phải” thì thày lí đã đáp lời nhanh chóng bằng việc xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, ý nói “lẽ phải” kia đã được nhân đôi. Sự thú vị được người đọc nhận ra khi tìm thấy sợi dây liên hệ thông suốt giữa: lẽ phải – những ngón tay và những đồng tiền.

Ý nghĩa tố cáo của truyện chính là ở chỗ: lẽ phải đối với người xử kiện được tính bằng tiền. Đồng tiền đo lẽ phải, tiền nhiều lẽ phải nhiều, tiền ít lẽ phải ít.

Câu 2 (trang 80 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

Nghệ thuật gây cười qua lời nói của thầy Lí ở cuối truyện?

Lời giải chi tiết:

Trong lời nói của thầy Lí ở cuối truyện có sự đồng nhất giữa “lẽ phải” với số tiền nhận hối lộ, khiến cho “lẽ phải” có thể đo, đếm được (giống như với đồng tiền). Từ đó gây nên tiếng cười.

– Xây dựng tình huống gây cười đặc sắc (Cải đút lót tiền mà vẫn bị đánh; thầy lí đã ăn tiền đút lót mà vẫn đánh người)

– Đẩy lên cao trào cho tiếng cười “òa” ra. Ở đây có cả ngôn ngữ nói và có cả hành động của thầy lí. Một chi tiết thật tinh tế mà thâm thúy, sâu cay khi “cười” vào mặt vị đại diện cho công lí của chính quyền phong kiến ở nông thôn trước đây.

Câu 3 (trang 80 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

Anh (chị) đánh giá như thế nào về nhân vật Ngô và Cải?

Lời giải chi tiết:

– Đánh giá về nhân vật Ngô và Cải:

+ Họ là những người nông dân bình thường, tội nghiệp, đáng thương.

+ Nhưng họ cũng là những người đáng trách, họ đã có những hành vi không tốt (đánh nhau), lại không chịu nhận khuyết điểm về mình mà đều muốn trút tội cho đối phương, thậm chí đều có hành động hối lộ nhà chức trách.

+ Nhìn chung, họ bị rơi vào tình cảnh bi hài: vừa khốn khổ (bi), lại vừa bị chê cười (hài).

– Thực ra tác giả dân gian cũng không có ý định nói về những người lâm vào việc kiện tụng như Ngô và Cải. Ý này nó đến một cách tự nhiên. Tác giả dân gian dùng tiếng cười để quất đòn roi vào việc xử kiện của lí trưởng. Song Cải và Ngô lâm vào kiện mà mất tiền. Riêng cải mất tiền còn phải phạt một chục roi. Tiếng cười cũng dành cho họ nhưng thật chua chát. Họ vừa đáng thương, vừa đáng trách.

Luyện tập

Câu hỏi (trang 80 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

Phân tích cả hai truyện để thấy đặc trưng của thể loại của truyện cười.

Lời giải chi tiết:

– Phân tích hai truyện dựa trên đặc trưng chung của truyện cười dân gian và đặc điểm riêng (tình huống gây cười) của từng truyện.

a. Về nội dung: Thường châm biếm, chế giễu những thói hư, tật xấu trong nội bộ nhân dân, hoặc đả kích những thói hư khác trong xã hội. Tạo ra những mâu thuẫn trái tự nhiên để gây cười.

Trong hai truyện trên: Truyện Tam đại con gà chế giễu thầy đồ dốt nát nhưng lại sĩ diện hão. Truyện Nhưng nó phải bằng hai mày đả kích thói tham nhũng của bọn tham quan ô lại trong xã hội ngày xưa.

b. Về nghệ thuật: ngắn gọn, kết cấu mạch lạc, chặt chẽ, mẫu thuẫn phát triển nhanh, kết thúc bất ngờ để bật ra tiếng cười.

Trong hai truyện trên, truyện Tam đại con gà tạo ra mâu thuẫn là sự dốt nát (bên trong) với cái làm ra vẻ ta đây là giỏi (bên ngoài) của thầy đồ. Truyện Nhưng nó phải bằng hai mày lại dựa trên mâu thuẫn là việc phân xử phải trái lại được “đo, đếm” như đối với đồng tiền.

About