Top 6 Bài soạn “Luyện tập về phương pháp lập luận trong văn nghị luận” lớp 7 hay nhất

Trong chương trình Ngữ văn lớp 6, học sinh đã được học về hai thể loại văn tự sự và miêu tả. Lớp 7, các em sẽ học tiếp hai phương thức biểu đạt mới là biểu cảm và nghị luận. Nghị luận là thể văn bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của mình về một đối tượng, vấn đề nào đó trong cuộc sống. Để làm văn nghị luận, chúng ta phải nắm thật chắc về phương pháp lập luận trong văn nghị luận. Qua bài “Luyện tập về phương pháp lập luận trong văn nghị luận” giúp các em hiểu sâu thêm về phương pháp lập luận, vận dụng được phương thức lập luận để tạo lập văn bản nghị luận. Mời các bạn tham khảo một số bài soạn hay nhất mà danh sách đã tổng hợp trong bài viết dưới đây để tham khảo.

Bài soạn “Luyện tập về phương pháp lập luận trong văn nghị luận” số 4

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

I. Lập luận trong đời sống

Lập luận là cách đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng (luận cứ) để dẫn dắt thuyết phục người nghe (đọc) chấp nhận một quan điểm, tư tưởng nào đó của người nói (viết). Quan điểm, tư tưởng cần được chấp nhận ấy là kết luận


II. Lập luận trong văn nghị luận

Luận điểm trong văn nghị luận là những kết luận có tính khái quát, có ý nghĩa phổ biến đối với xã hội. Ví dụ:
a. Chống nạn thất học

b. Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước

c. Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội

d. Sách là người bạn lớn của con người

e. Học cơ bản mới có thể trở thành tài lớn

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: Trang 32 sgk ngữ văn 7 tập 2

Đọc các ví dụ sau trả lời câu hỏi:

a. Hôm nay trời mưa, chúng ta không đi chơi công viên nữa.

b. Em rất thích đọc sách, vì qua sách em học được nhiều điều.

c. Trời nóng quá đi, đi ăn kem đi.

Trong các câu trên, bộ phận nào là luận cứ, bộ phận nào là kết luận, thể hiện tư tưởng (ý định, quan điểm) của người nói? Mối quan hệ của luận cứ đối với kết luận là như thế nào? Vị trí luận cứ và kết luận có thể thay đổi cho nhau không?

Bài làm:
Lập luận là đưa ra những luận cứ nhăm dần dắt người nghe, người dọc đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận mà kết luận đó là tư tưởng của người nói, người viết.
Căn cứ vào khái niệm trên ta có thế xác định được các bộ phận là luận cứ gồm có: “Hôm nay trời mưa”, “Vì qua sách em học được nhiều điều”, “Trời nóng quá”.
Bộ phận thể hiện ý định, tư tưởng của người nói (kết luận): “Chúng ta không đi công viên nữa”, “ Em rất thích đọc sách”, “ đi ăn kem đi”.

Câu 2: Trang 33 sgk ngữ văn 7 tập 2
Hãy bổ sung luận cứ cho các kết luận sau :
a. Em rất yêu trường em
b. Nói dối rất có hại
c. … nghỉ một lát nghe nhạc thôi
d. …trẻ em cần biết nghe lời cha mẹ
e. … em rất thích đi tham quan
Bài làm:
a. Em rất yêu trường em ( vì nó rất đẹp / vì ở đó em được học nhiều điều bổ ích..)
b. Nói dối rất có hại ( vì sẽ làm mất lòng tin của mọi người / vì sẽ làm mất thiện cảm trong mắt người khác..)
c. ( Mệt quá / Xong bài tập rồi ..) nghỉ một lát để nghe nhạc thôi.
d. (Cá không ăn muối cá ươn, con không nghe lời cha mẹ, trăm đường con hư nên) trẻ em cần biết nghe lời cha mẹ.
e. (Đi tham quan sẽ biết thêm được nhiều điều mới lạ nên ) em rất thích đi tham quan.

Câu 3: Trang 33 sgk ngữ văn 7 tập 2
Viết tiếp kết luận cho các luận cứ sau nhằm thể hiện tư tưởng, quan điểm của người nói
a. Ngồi mãi ở nhà chán lắm…
b. Ngày mai đã thi rồi mà bài vở còn nhiều quá…
c. Nhiều bạn nói năng thật khó nghe…
d. Các bạn đã lón rồi, làm anh làm chị chúng nó…
e. Cậu này ham đá bóng thật…
Bài làm:
a. Ngồi mãi ở nhà chán lắm (phải ra ngoài / phải đi dạo một chút ..)
b. Ngày mai đã thi rồi mà bài vở còn nhiều quá (phải học thôi, chắc kiểu này thi lại điểm kém rồi..)
c. Nhiều bạn nói năng thật khó nghe (khiến cho người khác khó chịu, khiến người khác không thiện cảm..)
d. Các bạn đã lớn rồi, làm anh làm chị chúng nó (cho nên phải làm gương cho các em/ cho nên phải giúp đỡ các em..)
e. Cậu này ham bóng đá thật (chẳng chịu chơi môn khác/ đi đá bóng cả ngày..)

Câu 4: Trang 33 sgk ngữ văn 7 tập 2
Luận điểm trong văn nghị luận là những kết luận có tính khái quát, có ý nghĩa phổ biến đối với xã hội. Ví dụ:
a. Chống nạn thất học
b. Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước
c. Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội
d. Sách là người bạn lớn của con người
e. Học cơ bản mới có thể trở thành tài lớn
Hãy so sánh với một số kết luận ở mục I.2 để nhận ra đặc điểm của luận điểm trong văn nghị luận.
Bài làm:
So sánh với một sô kêt luận ở mục 1.2 ta thây chúng có những điểm giống và khác như sau:
Giống nhau: chúng đều là những kết luận.
Khác nhau:
Ở mục I. 2, lập luận trong đời sông hằng ngày được diễn đạt dưới hình thức là một câu. Do đó, những lập luận này mang tính cảm tính, tính hàm ẩn, không tường minh.
Ở mục II, lập luận trong văn nghị luận thường được diễn đạt dưới hình thức là một tập hợp câu. Do vậy, nó mang tính khái quát và có ý nghĩa tường minh, đòi hỏi có tính lí luận chặt chẽ.
Từ đây chúng ta có thể dễ dàng nhận ra đặc điểm cơ bản của luận điểm : Ngắn gọn, có tính khái quát cao, có ý nghĩa phổ biến đối với xã hội, phương pháp luận mang tính khoa học, chặt chẽ.

Câu 5: Trang 34 sgk ngữ văn 7 tập 2
Do luận điểm có tầm quan trọng nên phương pháp lập luận trong văn nghị luận đòi hỏi phải khoa học và chặt chẽ. Nó phải trả lời các câu hỏi : Vì sao mà nêu ra luận điểm đó? Luận điểm đó có những nội dung gì? Luận điểm đó có cơ sở thực tế không? Luận điểm đó sẽ có tác dụng gì? ..Muốn trả lời các câu hỏi đó thì phải lựa chọn luận cứ thích hợp, sắp xếp chặ chẽ. Em hãy lập luận cho luận điểm “Sách là người bạn lớn của con người ” bằng cách trả lời các câu hỏi trên.
Bài làm:
Đế lập luận cho luận điểm “Sách là người bạn lớn của con người”, Ta cần trả lời các câu hỏi sau:
“Vì sao mà nêu ra luận điểm đó?”: Vì đây là kết luận có tính khái quát, có ý nghĩa phổ biến đối với xã hội.
Luận điểm trên có những nội dung sau: Sách là kho tri thức vô tận của con người, nuôi dưỡng con người về trí tuệ, tâm hồn;
Sách giúp con người khám phá sự bí ẩn của thế giới tự nhiên, khám phá sự phong phú, tinh tế của đời sống tâm hồn của con người;
Sách giúp con người tích lũy về kinh nghiệm, giúp ta vượt qua thời gian đề hiểu biết quá khứ, hướng về tương lai
Nhờ có sách con người dễ dàng nắm bắt thông tin, vượt qua những trở ngại về không gian, thời gian.
Luận điểm trên có cơ sở thực tế : Đó là thông qua thực tiễn sách mang lại nhiều lợi ích cho cuộc sống của con người. Do đó, con người đã nhận rõ vai trò vô cùng quan trọng của sách.
Luận điểm “Sách là người bạn lớn của con người” có tác dụng là linh hồn của bài viết vì nó thống nhất các đoạn văn thành một khối thông nhất

Câu 6: Trang 34 sgk ngữ văn 7 tập 2
Em hãy đọc truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi và Ếch ngồi đáy giếng. Từ mỗi truyện ấy, hãy rút ra một kết luận làm thành luận điểm của em và lập luận cho luận điểm đó.
Bài làm:
1. Xác định luận điểm và lập luận của truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi:
Luận điểm: cần phải có một cái nhìn tổng thế khi xem xét các sự vật, hiện tượng.
Luận cứ:
Nếu chỉ quan sát một cách phiến diện thì con người khó có thể đánh giá được chính xác bản chất của các sự vật, hiện tượng.
Nhìn nhận sự vật, hiện tượng một cách tổng thể sẽ giúp ta có thế nắm bắt được thực tế đời sống một cách chủ động
Khi quan sát hay tìm hiểu một vấn đề, không được quan sát các yếu tố riêng lẻ mà cần phải tìm ra mối liên hệ biện chứng giữa các yếu tố với nhau.
Lập luận: Không lập luận một cách trực tiếp mà lập luận một cách gián tiếp bằng câu chuyện kế Thầy bói xem voi với những nhân vật là 5 thầy bói bị mù. Với những chi tiết, lời thoại chọn lọc, đầy dụng ý và cuối cùng luận điểm được rút ra một cách thú vị, bất ngờ.
2. Xác định luận điểm và lập luận của truyện Ếch ngồi đáy giếng
Luận điểm: Kiêu ngạo, huyênh hoang sẽ phải trả giá râ’t đắt.
Luận cứ:
Ếch sống trong giếng rất lâu, bên cạnh những con vật nhỏ bé.
Khi ếch cất tiếng kêu vang động, những con vật này rất sợ hãi
Do đó ếch tưởng mình giống như một vị chúa tể.
Trời mưa to, nước dềnh lên đưa ếch ra ngoài.
Êch đi lại nghêng ngang, chẳng thèm để ý đến xung quanh.
Êch bị trâu giẫm bẹp.
Lập luận theo trình tự thời gian, không gian với những chi tiết, sự việc cụ thể và chọn lọc đế rút ra kết luận.

Bài soạn “Luyện tập về phương pháp lập luận trong văn nghị luận” số 1

I. Lập luận trong đời sống

Lập luận là cách đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng (luận cứ) để dẫn dắt thuyết phục người nghe (đọc) chấp nhận một quan điểm, tư tưởng nào đó của người nói (viết). Quan điểm, tư tưởng cần được chấp nhận ấy là kết luận

Câu 1:

Luận cứ – Kết luận

Hôm nay trời mưa -chúng ta không đi chơi công viên nữa.
Vì qua sách em học được nhiều điều – em rất thích đọc sách
Trời nóng quá – đi ăn kem đi
Nguyên nhân – Kết quả

Có thể hoán đổi vị trí giữa luận cứ và kết luận, ví dụ:

Chúng ta không đi chơi công viên nữa, (vì) hôm nay trời mưa.

Câu 2: Bổ sung luận cứ cho các kết luận:

a. Em rất yêu trường em vì nó rất đẹp.

b. Nói dối rất có hại vì sẽ làm mất lòng tin của mọi người.

c. Mệt quá, nghỉ một lát để nghe nhạc thôi.

d. Cá không ăn muối cá ươn. Con không nghe lời cha mẹ, trăm đường con hư nên trẻ em cần biết nghe lời cha mẹ.

e. Đi tham quan sẽ biết thêm được nhiều điều mới lạ nên em rất thích đi tham quan.

Câu 3: Viết tiếp phần kết luận.

a. Ngồi mãi ở nhà chán lắm phải ra ngoài

b. Ngày mai đã thi rồi mà bài vở còn nhiều quá phải học thôi

c. Nhiều bạn nói năng thật khó nghe khiến cho người khác khó chịu

d. Các bạn đã lớn rồi, làm anh làm chị chúng nó cho nên phải làm gương cho các em.

e. Cậu này ham bóng đá thật chẳng chịu chơi môn khác.


II. Lập luận trong văn nghị luận

Câu 1: Luận điểm trong văn nghị luận là những kết luận có tính khái quát, có ý nghĩa phổ biến đối với xã hội, khác với những kết luận của lập luận trong đời sống là những luận điểm gắn với những tình huống giao tiếp nhất định.

Câu 2: Với đề bài “Sách là người bạn lớn của con người”, có thể đặt ra những câu hỏi như sau:

– Vì sao lại nói “Sách là người bạn lớn của con người”? Vì sách rất có ích đối với con người.

– Ích lợi của sách đối với đời sống con người thể hiện cụ thể ở những phương diện nào?

– Trong thực tế, ích lợi của sách thể hiện ra sao? Những sự việc cụ thể nào cho thấy ích lợi của sách?

– Nhận rõ ích lợi to lớn của sách như vậy, chúng ta sẽ làm gì?


Câu 3:

a.RÚt ra kết luận làm thành luận điểm:

– Thầy bói xem voi: Phải có cái nhìn toàn diện trước sự vật, hiện tượng.

– Ếch ngồi đáy giếng: Không được chủ quan, kiêu ngạo.

b.

– Xây dựng lập luận chính:

– Thầy bói xem voi: Muốn hiểu biết được sự vật, hiện tượng nào đó cần phải có cái nhìn toàn diện. (quan hệ điều kiện – kết quả)

– Ếch ngồi đáy giếng: Không được chủ quan, kiêu ngạo mà phải cố gắng mở rộng tầm hiểu biết của mình. (quan hệ suy luận bác bỏ – khẳng định)

– Chẳng hạn, với đề “Không được chủ quan, kiêu ngạo”, có thể lập luận theo quan hệ tổng phân hợp như sau:

– Mở bài: Không được chủ qua, kiêu ngạo mà phải cố gắng mở rộng tầm hiểu biết của mình.

– Thân bài:

+ Thói huênh hoang, chủ quan, kiêu ngạo vẫn thường thấy trong thực tế.

+ Tác hại của thói huênh hoang chủ quan, kiêu ngạo.

+ Phải cố gắng khiêm tốn, học hỏi, mở rộng tầm hiểu biết của mình.

– Kết bài: hiểu biết của con người hạn hẹp, cần phải không ngừng mở rộng hiểu biết và khiêm tốn học hỏi.

Bài soạn “Luyện tập về phương pháp lập luận trong văn nghị luận” số 5

KIẾN THỨC CẦN NẮM VỮNG

– Mỗi bài văn nghị luận đều phải có luận điểm, luận cứ và lập luận. Trong một bài văn có thể có nhiều luận điểm chính và các luận điểm phụ.

+ Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm trong văn nghị luận. Luận điểm trong văn nghị luận là những kết luận có tính khái quát, có ý nghĩa phổ biến đối với xã hội.

+ Luận cứ là lí lẽ, dẫn chứng đưa ra làm cơ sở cho luận điểm.

– Lập luận là cách lựa chọn sắp xếp, trình bày luận cứ làm cơ sở dẫn dắt người nghe, người đọc đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận, mà kết luận đó là tư tưởng (quan điểm, ý định) của người nói, người viết.

– Phương pháp lập luận trong văn nghị luận đòi hỏi phải khoa học và chặt chẽ.


I. LẬP LUẬN TRONG ĐỜI SỐNG

Câu 1 – Trang 32 SGK

Đọc các ví dụ sau và trả lời câu hỏi.

a) Hôm nay trời mưa, chúng ta không đi chơi công viên nữa.

b) Em rất thích đọc sách, vì qua sách em học được nhiều điều.

c) Trời nóng quá, đi ăn kem đi.

Trong các câu trên, bộ phận nào là luận cứ, bộ phận nào là kết luận, thể hiện tư tưởng (ý định, quan điểm) của người nói? Mối quan hệ của luận cứ đối với kết luận như thế nào? Vị trí của luận cứ và kết luận có thể thay đổi cho nhau không?

Trả lời:

Xác định bộ phận luận cứ, bộ phận kết luận của các ví dụ a), b), c):

Luận cứ – Kết luận

Hôm nay trời mưa – chúng ta không đi chơi công viên nữa.
Vì qua sách em học được nhiều điều – em rất thích đọc sách
Trời nóng quá – đi ăn kem đi
Nguyên nhân

Kết quả

– Vị trí của luận cứ và kết luận có thể thay đổi vị trí cho nhau.

VD: Chúng ta không đi chơi nữa, (vì) hôm nay trời mưa

Kết luận luận cứ

(kết quả của quyết định) (nguyên nhân cụ thể)

Câu 2 – Trang 33 SGK

Hãy bổ sung luận cứ cho những kết luận sau:

a) Em rất yêu trường em…

b) Nói dối rất có hại…

c) … nghỉ một lát nghe nhạc thôi.

d) … trẻ em cần biết nghe lời cha mẹ.

e) … em rất thích đi tham quan.

Trả lời:

a. Em rất yêu trường em vì nó rất đẹp.

b. Nói dối rất có hại vì sẽ làm mất lòng tin của mọi người.

c. Mệt quá, nghỉ một lát để nghe nhạc thôi.

d. Cá không ăn muối cá ươn. Con không nghe lời cha mẹ, trăm đường con hư nên trẻ em cần biết nghe lời cha mẹ.

e. Đi tham quan sẽ biết thêm được nhiều điều mới lạ nên em rất thích đi tham quan.


Câu 3 – Trang 33 SGK

Viết tiếp các luận cứ sau:

a) Ngồi mãi ở nhà chán lắm…

b) Ngày mai đã thi rồi mà bài vở còn nhiều quá…

c) Nhiều bạn nói năng thật khó nghe…

d) Các bạn đã lớn rồi, làm anh làm chị chúng nó…

e) Cậu này ham bóng đá thật…

Trả lời:

a. Ngồi mãi ở nhà chán lắm phải ra ngoài

b. Ngày mai đã thi rồi mà bài vở còn nhiều quá phải học thôi

c. Nhiều bạn nói năng thật khó nghe khiến cho người khác khó chịu

d. Các bạn đã lớn rồi, làm anh làm chị chúng nó cho nên phải làm gương cho các em.

e. Cậu này ham bóng đá thật chẳng chịu chơi môn khác.


II. LẬP LUẬN TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN

Câu 1 – Trang 33 SGK

Luận điểm trong văn nghị luận là những kết luận có tính khái quát, có ý nghĩa phổ biến đối với xã hội. Ví dụ:

a) Chống nạn thất học.

b) Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước.

c) Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội.

d) Sách là người bạn lớn của con người.

e) Học cơ bản mới có thể trở thành tài lớn.

Hãy so sánh với một số kết luận ở mục I.2 để nhận ra đặc điểm của luận điểm trong văn nghị luận.

Trả lời:

So sánh câu kết luận ở mục 1 và 2 ở phần Lập luận trong đời sống với Lập luận trong văn nghị luận. Chẳng hạn:

“Qua sách em học được nhiều điều, sách là người bạn lớn của con người.”

=> Luận điểm trong văn nghị luận là những kết luận có tính khái quát, có ý nghĩa phổ biến đối với xã hội, khác với những kết luận của lập luận trong đời sống là những luận điểm gắn với những tình huống giao tiếp nhất định.


Câu 2 – Trang 34 SGK

Do luận điểm có tầm quan trọng nên phương pháp lập luận trong văn nghị luận đòi hỏi phải khoa học và chặt chẽ. Nó phải trả lời các câu hỏi: Vì sao mà nêu ra luận điểm đó? Luận điểm đó có những nội dung gì? Luận điểm đó có cơ sở thực tế không? Luận điểm đó sẽ có tác dụng gì? … Muốn trả lời các câu hỏi đó thì phải lựa chọn luận cứ thích hợp, sắp xếp chặt chẽ.

Em hãy lập luận cho luận điểm “Sách là người bạn lớn của con người” bằng cách trả lời các câu hỏi trên.

Trả lời:

Khi làm đề bài “Sách là người bạn lớn của con người”, những câu hỏi có thể được đặt ra như sau:

– Vì sao lại nói “Sách là người bạn lớn của con người”? Vì sách rất có ích đối với con người.

– Ích lợi của sách đối với đời sống con người thể hiện cụ thể ở những phương diện nào?

– Trong thực tế, ích lợi của sách thể hiện ra sao? Những sự việc cụ thể nào cho thấy ích lợi của sách?

– Nhận rõ ích lợi to lớn của sách như vậy, chúng ta sẽ làm gì?


Câu 3 – Trang 34 SGK

Em đã học truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi và Ếch ngồi đáy giếng. Từ mỗi truyện ấy, hãy rút ra một kết luận làm thành luận điểm của em và lập luận cho luận điểm đó.

Trả lời:

a) Xác định luận điểm và lập luận của truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi

– Luận điểm: cần phải có một cái nhìn tổng thể khi xem xét các sự vật, hiện tượng.

– Luận cứ:

+ Nếu chỉ quan sát một cách phiến diện thì con người khó có thể đánh giá được chính xác bản chất của các sự vật, hiện tượng.

+ Nhìn nhận sự vật, hiện tượng một cách tổng thể sẽ giúp ta có thế nắm bắt được thực tế đời sống một cách chủ động.

+ Khi quan sát hay tìm hiểu một vấn đề, không được quan sát các yếu tố riêng lẻ mà cần phải tìm ra mối liên hệ biện chứng giữa các yếu tố với nhau.

– Lập luận: Không lập luận một cách trực tiếp mà lập luận một cách gián tiếp bằng câu chuyện kể Thầy bói xem voi với những nhân vật là 5 thầy bói bị mù. Với những chi tiết, lời thoại chọn lọc, đầy dụng ý và cuối cùng luận điểm được rút ra một cách thú vị, bất ngờ.

b) Xác định luận điểm và lập luận của truyện Ếch ngồi đáy giếng

– Luận điểm: Kiêu ngạo, huênh hoang sẽ phải trả giá rất đắt.

– Luận cứ:

+ Ếch sống trong giếng rất lâu, bên cạnh những con vật nhỏ bé.

+ Khi ếch cất tiếng kêu vang động, những con vật này rất sợ hãi

+ Do đó ếch tưởng mình giống như một vị chúa tể.

+ Trời mưa to, nước dềnh lên đưa ếch ra ngoài.

+ Ếch đi lại nghêng ngang, chẳng thèm để ý đến xung quanh.

+ Ếch bị trâu giẫm bẹp.

– Với đề “Không được chủ quan, kiêu ngạo”, có thể lập luận theo quan hệ tổng phân hợp như sau:

1. Mở bài: Không được chủ quan, kiêu ngạo mà phải cố gắng mở rộng tầm hiểu biết của mình.

2. Thân bài:

+ Thói huênh hoang, chủ quan, kiêu ngạo vẫn thường thấy trong thực tế.

+ Tác hại của thói huênh hoang chủ quan, kiêu ngạo.

+ Phải cố gắng khiêm tốn, học hỏi, mở rộng tầm hiểu biết của mình.

3. Kết bài: Hiểu biết của con người hạn hẹp, cần phải không ngừng mở rộng hiểu biết và khiêm tốn học hỏi.

Bài soạn “Luyện tập về phương pháp lập luận trong văn nghị luận” số 3

I. Lập luận đời sống

Câu 1. Đọc các ví dụ sau và trả lời câu hỏi.

a. Hôm nay trời mưa, chúng ta không đi chơi công viên nữa.

b. Em rất thích đọc sách, vì qua sách em học được nhiều điều.

c. Trời nóng quá, đi ăn kem đi.

Câu hỏi:

Trong các câu trên, bộ phận nào là luận cứ, bộ phận nào là kết luận, thể hiện tư tưởng (ý định, quan điểm) của người nói? Mối quan hệ của luận cứ đối với kết luận là như thế nào? Vị trí của luận cứ và kết luận có thể thay đổi cho nhau không?

Trả lời:

Luận cứ và kết luận trong các câu được xác định như sau:

Câu
Luận cứ – Kết luận
a.
hôm nay trời mưa
chúng ta không đi chơi công viên nữa
b.
qua sách em học được nhiều điều
em rất thích đọc sách
c.
trời nóng quá
đi ăn kem đi
Nhìn vào bảng, các em thấy trong ba câu trên, câu a và c, luận cứ đứng trước kết luận. Mối quan hệ giữa luận cứ và kết luận là mối quan hệ nguyên nhân – kết quả. Còn trong câu b, luận cứ đứng sau kết luận. Mối quan hệ giữa luận cứ và kết luận ở đây là mối quan hệ giải thích.

Như vậy, vị trí của luận cứ và kết luận trong lập luận có thể thay đổi cho nhau.


Câu 2. Hãy bổ sung luận cứ cho các kết luận sau:

a. Em rất yêu trường em…

b. Nói dối rất có hại…

c. … nghỉ một lát nghe nhạc thôi.

d. … trẻ em cần biết nghe lời cha mẹ.

e. … em rất thích đi tham quan.

Trả lời:

a. Em rất yêu trường em vì nơi đây đã từng gắn bó với em từ tuổi ấu thơ.

b. Nói dối rất có hại vì sẽ chẳng ai còn tin mình nữa.

c. Chúng ta học nhiều rồi, nghỉ một lát nghe nhạc thôi.

d. Ở nhà, trẻ em cần biết nghe lời cha mẹ.

e. Ngày nghỉ, em rất thích đi tham quan.

Câu 3. Viết tiếp kết luận cho các luận cứ sau nhằm thể hiện tư tưởng, quan điểm của người nói.

a. Ngồi mãi ở nhà chán lắm…

b. Ngày mai đã thi rồi mà bài vở còn nhiều quá…

c. Nhiều bạn nói năng thật khó nghe…

d. Các bạn đã lớn rồi, làm anh làm chị chúng nó…

e. Cậu này ham đá bóng thật….

Trả lời:

a. Ngồi mãi ở nhà chán lắm, chúng ta ra ngoài công viên chơi đi.

b. Ngày mai đã thi rồi mà bài vở còn nhiều quá, đầu óc cứ rối tung lên.

c. Nhiều bạn nói năng thật khó nghe, họ cứ nghĩ như thế là hay lắm.

d. Các bạn đã lớn rồi, làm anh chị chúng nó phải gương mẫu chữ.

e. Cậu này ham bóng đá thật chẳng để ý đến học hành gì cả.


II. Lập luận trong văn nghị luận

Câu 1. Luận điểm trong văn nghị luận là những kết luận có tính khái quát, có ý nghĩa phổ biến đối với xã hội. Ví dụ:

a. Chống nạn thất học

b. Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước

c. Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội

d. Sách là người bạn lớn của con người.

e. Học cơ bản mới có thể trở thành tài lớn.

Hãy so sánh với một số kết luận ở mục I. 2. để nhận ra đặc điểm của luận điểm trong văn nghị luận.

Trả lời:

Giống nhau: đều là những kết luận.

Khác nhau:

– Ở mục I.2: Lời nói trong giao tiếp hằng ngày thường mang tính cá nhân và có nghĩa hàm ẩm.

– Ở mục II: Luận điểm trong văn nghị luận thường mang tính khái quát và có ý nghĩa tường minh.

Tác dụng:

– Luận điểm là cơ sở để triển khai luận cứ.

– Luận điểm là kết luận của lập luận.

=> Lập luận trong văn nghị luận đòi hỏi có tính lý luận, chặt chẽ và tường minh.


Câu 2. Do luận điểm có tầm quan trọng nên phương pháp lập luận trong văn nghị luận đòi hỏi phải khoa học và chặt chẽ. Nó phải trả lời các câu hỏi: Vì sao mà nêu ra luận điểm đó? Luận điểm đó có những nội dung gì? Luận điểm đó có cơ sở thực tế không? Luận điểm đó sẽ có tác dụng gì? … Muốn trả lời các câu hỏi đó thì phải lựa chọn luận cứ thích hợp, sắp xếp chặt chẽ.

Em hãy lập luận cho luận điểm “Sách là người bạn lớn của con người” bằng cách trả lời các câu hỏi trên.

Trả lời:

+ Vai trò của sách đối với đời sống con người.

+ Phân tích tác dụng của sách đối với nhận thức của con người về thế giới xung quanh.

+ Sách là người bạn không thể thiếu trong đời sống mỗi người.

– Thái độ với vấn đề nghị luận: khẳng định ý nghĩa to lớn của sách đối với đời sống con người.

* Lập ý:

– Vì sao lại nói “Sách là người bạn lớn của con người”.

– Ích lợi của sách đối với đời sống con người thể hiện cụ thể ở các phương diện.

+ Con người cảm thấy thư giãn, thoải mái khi đọc sách.

+ Đọc sách giúp ta hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau: văn hóa, kinh tế, xã hội…

– Ích lợi của sách thể hiện trong thực tế. Những sự việc cụ thể cho thấy ích lợi của sách.

– Hành động của mỗi người khi nhận rõ ích lợi to lớn của sách.


Câu 3. Em đã học truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi và Ếch ngồi đáy giếng. Từ mỗi chuyện ấy, hãy rút ra một kết luận làm thành luận điểm của em và lập luận cho luận điểm đó.

Trả lời:

* “Ếch ngồi đáy giếng”:

– Luận điểm: Cái giá phải trả cho những kẻ huênh hoang, dốt nát, kiêu ngạo.

– Luận cứ:

+ Ếch sống lâu trong giếng, bên cạnh những con vật nhỏ bé.

+ Các loài vật rất sợ tiếng kêu vang động của ếch.

+ Ếch tưởng mình ghê gớm như một vị chúa tể.

+ Trời mưa to, nước dâng lên cao, đưa ếch ra khỏi giếng.

+ Quen thói cũ, ếch vẫn huênh hoang, nghênh ngang đi lại khắp nơi, chẳng thèm để ý đến xung quanh.

+ Ếch bị trâu giẫm bẹp.

– Lập luận: theo trình tự thời gian và không gian, bằng một câu chuyện kể với những chi tiết, sự việc cụ thể để rút ra luận điểm một cách kín đáo.

* “Thầy bói xem voi”:

– Luận điểm: Muốn hiểu đúng, đủ bất cứ sự vật, sự việc, con người ta cần xem xét, đánh giá toàn diện tránh phiến diện, một chiều.

– Luận cứ:

+ Cách các ông xem voi.

+ Thái độ của năm ông thầy bói khi phán về voi.

+ Sai lầm của họ khi xem xét voi.

– Lập luận: theo trình tự các luận cứ, bằng nghệ thuật của một câu chuyện kể và sử dụng một số chi tiết cụ thể, chọn lọc nhằm rút ra kết luận kín đáo.

Bài soạn “Luyện tập về phương pháp lập luận trong văn nghị luận” số 6

I- Lập luận trong đời sống

Câu 1 trang 33 SGK văn 7 tập 2:

Bộ phận là luận cứ:

Hôm nay trời mưa
Vì qua sách em học được nhiều điều
Trời nóng quá
Bộ phận là kết luận:

Chúng ta không đi chơi công viên nữa
Em rất thích đọc sách
Đi ăn kem đi
Quan hệ giữa luận cứ và kết luận là quan hệ nhân quả

Vị trí của luận cứ và kết luận có thể thay đổi cho nhau

Câu 2 trang 33 SGK văn 7 tập 2:

a. Em rất yêu trường em vì nơi đây em học được nhiều điều hay lẽ phải

b. Nói dối rất có hại vì sẽ đánh mất lòng tin của người khác

c. Làm việc nhiều rồi, nghỉ một lát nghe nhạc thôi

d. Để làm một đứa con ngoan, trẻ em cần biết nghe lời cha mẹ

e. Đi đến những vùng đất mới sẽ khám phá thêm nhiều điều bổ ích nên em rất thích đi tham quan

Câu 3 trang 33 SGK văn 7 tập 2:

a. Ngồi mãi ở nhà chán lắm, ra ngoài chơi thôi

b. Ngày mai đã thi rồi mà bài vở còn nhiều quá, học từ bây giờ mới kịp

c. Nhiều bạn nói năng thật khó nghe, các bạn phải sửa cách ăn nói của mình

d. Các bạn đã lớn rồi, làm anh làm chị chúng nó thì phải nhường nhịn các em

e. Cậu này ham đá bóng thật, chắc tương lai sẽ trở thành một cầu thủ giỏi

II- Lập luận trong văn nghị luận

Câu 1 trang 33 SGK văn 7 tập 2:

Lập luận ở mục I. 2 là việc làm, hành động cụ thể
Lập luận ở mục II. 1 mang nội dung, tư tưởng, quan điểm có tính khái quát


Câu 2 trang 33 SGK văn 7 tập 2:

Sách là người bạn lớn của con người:

Sách là tài sản quý báu kết tinh trí tuệ của người xưa
Sách cung cấp cho con người nguồn tri thức phong phú
Sách bồi dưỡng tâm hồn con người
Sách an ủi, động viên, trở thành người bạn của chúng ta

Câu 3 trang 33 SGK văn 7 tập 2:

Thầy bói xem voi: Muốn hiểu biết sự vật, sự việc phải xem xét chúng một cách toàn diện:

Mỗi sự vật, sự việc gồm nhiều yếu tố cấu thành nên cho nên không thể xem xét chúng một cách giản đơn, thiếu toàn diện
Xem xét sự vật, sự việc một cách phiến diện sẽ có cái nhìn sai lệch về sự vật, sự việc đó
Khi xem xét một cách toàn diện, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát, nắm được bản chất của đối tượng
Ếch ngồi đáy giếng: Không được chủ quan, kiêu ngạo mà cần cố gắng mở rộng tầm hiểu biết của mình

Kiến thức thì vô cùng, vô tận trong khi hiểu biết của con người là hạn chế, cho nên không được chủ quan, kiêu ngạo
Chủ quan, kiêu ngạo sẽ làm hạn hẹp đầu óc của bản thân, không thể tiếp thu cái mới vì cứ ngỡ mình biết cả rồi
Chủ quan, kiêu ngạo sẽ bị mọi người xa lánh, dẫn đến những hậu quả khó lường cho bản thân

Bài soạn “Luyện tập về phương pháp lập luận trong văn nghị luận” số 2

Phần I: LẬP LUẬN TRONG ĐỜI SỐNG

Câu 1. Đọc các ví dụ sau và trả lời câu hỏi.

a) Hôm nay trời mưa, chúng ta không đi chơi công viên nữa.

b) Em rất thích đọc sách, vì qua sách em học được nhiều điều.

c) Trời nóng quá, đi ăn kem đi.

Câu hỏi:

Trong các câu trên, bộ phận nào là luận cứ, bộ phận nào là kết luận, thể hiện tư tưởng (ý định, quan điểm) của người nói? Mối quan hệ của luận cứ đối với kết luận như thế nào? Vị trí của luận cứ và kết luận có thể thay đổi cho nhau không?

Trả lời:

Các câu có luận cứ:

a) Hôm nay trời mưa,

b) vì qua sách em học được nhiều điều.

c) Trời nóng quá,

– Ba phần sau là kết luận.

a) chúng ta không đi chơi công viên nữa.

b) qua sách em học được nhiều điều.

c) đi ăn kem.

– Mối quan hệ giữa luận cứ và kết luận là nhân quả.

– Vị trí của luận cứ và kết luận có thể thay đổi vị trí cho nhau.

– Chẳng hạn: Chúng ta không đi chơi nữa vì hôm nay trời mưa

Kết luận luận cứ

(kết quả của quyết định) (nguyên nhân cụ thể)


Câu 2. Hãy bổ sung luận cứ cho những kết luận sau:

a) Em rất yêu trường em…

b) Nói dối rất có hại…

c) … nghỉ một lát nghe nhạc thôi.

d) … trẻ em cần biết nghe lời cha mẹ.

e) … em rất thích đi tham quan.

Trả lời:

a) Em rất yêu trường em vì có nhiều bạn bè và thầy cô tốt.

b) Nói dối rất có hại bởi mọi người không tin mình nữa.

c) Mệt quá, nghỉ một lát nghe nhạc thôi.

d) Nhỏ tuổi còn nhiều khờ dại nên trẻ em cần biết nghe lời cha mẹ.

e) Em đã đến nhiều vùng đất nước nên em rất thích đi tham quan.


Câu 3. Viết tiếp các luận cứ sau:

a) Ngồi mãi ở nhà chán lắm…

b) Ngày mai đã thi rồi mà bài vở còn nhiều quá…

c) Nhiều bạn nói năng thật khó nghe…

d) Các bạn đã lớn rồi, làm anh làm chị chúng nó…

e) Cậu này ham bóng đá thật…

Trả lời:

a) Ngồi mãi ở nhà chán lắm, em rất thích được đi tham quan.

b) Ngày mai đã thi rồi mà bài vở còn nhiều quá, phải tập trung học thôi.

c) Nhiều bạn nói năng thật khó nghe, phải học ăn học nói lại mới được.

d) Các bạn đã lớn rồi, làm anh làm chị chúng nó mình phải gương mẫu.

e) Cậu này ham bóng đá thật, chắc sẽ là cầu thủ giỏi.

Phần II: LẬP LUẬN TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN

Trả lời câu 1 (trang 33 sgk Ngữ Văn 7 Tập 2):

So sánh câu kết luận ở mục 1 và 2 ở Lập luận trong đời sổng với Lập luận trong văn nghị luận. Chẳng hạn:

– Qua sách em học được nhiều điều, Sách là người bạn lớn của con người.

– Ta thấy luận điểm ở văn nghị luận là những kết luận khái quát, có ý nghĩa phổ biến với xã hội. Còn kết luận trong đời sống chỉ là của”em” và chưa có nghĩa khái quát cao “học được nhiều điều”.


Trả lời câu 2 (trang 34 sgk Ngữ Văn 7 Tập 2):

Xem lại phần “Luyện tập” trang 33 SGK.


Trả lời câu 3 (trang 34 sgk Ngữ Văn 7 Tập 2):

– Cả hai truyện đều có thể lập thành luận điểm.

– Phải có sự tiếp cận đối tượng toàn diện và sâu sắc thì mới hiểu biết đó tượng đó.

– Học sinh tự lập luận theo ba phần: Mở bài; Thân bài và Kết bài.

About