Top 16 Vị Thánh quen thuộc nhất trong Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ Phủ

Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Việt Nam được rất nhiều người dân tin theo và nương nhờ. Sự sùng bái các vị nhân thần, thiên thần, cũng như niềm tin vào sức mạnh tâm linh của con người đã dần hình thành các tín ngưỡng dân gian mang đậm bản sắc nước Việt. Hằng ngày chúng ta đi lễ đền, phủ nhưng chưa chắc đã biết hết mình đang cầu ai, đang khấn vị nào. danh sách xin giới thiệu các vị Thánh quen thuộc nhất trong hệ thống Tam, Tứ Phủ vô cùng đa dạng để chúng ta hiểu và đi lễ, cầu nguyện được đúng đắn và thấu hiểu nhất.

Ông Hoàng Mười Nghệ An

Ông Hoàng Mười hay còn gọi là Ông Mười Nghệ An là vị Thánh nổi danh trong hệ thống Tam, Tứ Phủ. Tương truyền, ông là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình, vốn là thiên quan trên Đế Đình. Ông được lệnh giáng trần để giúp dân phù đời. Vì vậy, dân gian lưu truyền nhiều dị bản về Ông Mười, nhưng nổi bật nhất là sự tích tại vùng Nghệ Tĩnh. Ông Mười giáng sinh thành Nguyễn Xí, một tướng giỏi dưới thời Vua Lê Thái Tổ, có công giúp vua dẹp giặc Minh, sau được giao cho trấn giữ đất Nghệ An, Hà Tĩnh (cũng chính là nơi quê nhà). Tại đây ông luôn một lòng chăm lo đến đời sống của nhân dân, truyện kể rằng có một lần xảy ra cơn cuồng phong làm đổ hết nhà cửa, ông liền sai quân lên rừng đốn gỗ về làm nhà cho dân, rồi mở kho lương cứu tế.

Trong một lần đi thuyền trên sông, đến đoạn chân núi Hồng Lĩnh, thì lại có đợt phong ba nổi lên, nhấn chìm thuyền của ông và ông đã hóa ngay trên sông Lam. Trong khi mội người đang thương tiếc cử hành tang lễ, thì trời quang đãng, nổi áng mây vàng, bỗng thấy thi thể của ông nổi trên mặt nước nhẹ tựa như không, sắc mặt vẫn hồng hào tươi tắn như người đang nằm ngủ, khi vào đến bờ, đột nhiên đất xung quanh ùn ùn bao bọc, che lấy di quan của ông. Lúc đó trên trời bỗng nổi mây ngũ sắc, kết thành hình xích mã (có bản nói là xích điểu) và có các thiên binh thiên tướng xuống để rước ông về trời. Sau này khi hiển ứng, ông được giao cho trấn thủ đất Nghệ Tĩnh, ngự trong phủ Nghệ An.

Nhân dân suy tôn ông là Ông Hoàng Mười (hay còn gọi là Ông Mười Củi) không chỉ vì ông là con trai thứ mười của Vua Cha (như một số sách đã nói) mà còn vì ông là người tài đức vẹn toàn, văn võ song toàn (“mười” mang ý nghĩa tròn đầy, viên mãn), không những ông xông pha chinh chiến nơi trận mạc, mà ông còn là người rất hào hoa phong nhã, giỏi thơ phú văn chương, không chỉ nơi trần thế mà các bạn tiên trên Thiên Giới ai cũng mến phục, các nàng tiên nữ thì thầm thương trộm nhớ. Sau các triều đại đã sắc tặng Ông Mười tất cả là 21 sắc phong (tất cả đều còn lưu giữ trong đền thờ ông).

Ông Hoàng Mười rất hay về ngự đồng, cũng bởi vì ông còn được coi là người được Vua Mẫu giao cho đi chấm lính nhận đồng. Khi ngự về đồng Ông Mười thường mặc áo vàng, đầu đội khăn xếp có thắt lét vàng, cài chiếc kim lệch màu vàng kim. Ông ngự về tấu hương rồi khai quang, có khi ông múa cờ xông pha chinh chiến, có khi lại lấy quạt làm quyển thư, lấy bút gài đầu để đi bách bộ vịnh phú ngâm thơ, có khi ông lại cầm dải lụa vàng như đang cùng người dân lao động kéo lưới trên sông Lam (quan niệm cho rằng đó cũng là ông kéo tài kéo lộc về cho bản đền) và ông cũng cầm hèo lên ngựa đi chấm đồng. Khi ông ngự vui, thường có dâng đọi chè xanh, miếng trầu vàng cau đậu, thuốc lá rồi cung văn tấu những điệu Hò Xứ Nghệ rất mượt mà êm tai. Ông được thờ phụng khắp nơi, đền chính là Đền Chợ Củi, chính là nơi năm xưa di quan ông trôi về và hóa, qua cây cầu Bến Thủy, bên sông Lam, núi Hồng Lĩnh, thuộc xã Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (cũng chính là nơi quê nhà của Ông Mười).

Mẫu Đệ Nhi Thượng Ngàn

Mẫu Thượng Ngàn đứng thứ hai trong Tam Tòa Thánh Mẫu, bà có rất nhiều tên gọi khác nhau như Lê Mại Đại Vương, Sơn Tinh Công Chúa, Đông Cuông Thánh Mẫu, Lâm Cung Thánh mẫu, Mẫu Đệ nhị Nhạc Phủ. Cùng với Mẫu Đệ Nhất, Mẫu Ngàn được thờ ở tất cả các đền, phủ có ngôi tam toà và đặc biệt các vùng rừng núi. Có ba nơi được coi là nơi thờ chính là Bắc Lệ (Lạng Sơn), Suối Mỡ (Bắc Giang) và Đông Cuông (Yên Bái). Tuy vậy, ba nơi này lại lưu giữ những truyền thuyết có phần khác nhau về Mẫu Thượng Ngàn.

Ở đền Bắc Lệ, Mẫu Thượng ngàn là công chúa La Bình, con gái của Tản Viên Sơn Thánh. Khi cha và mẹ, theo lệnh của Ngọc Hoàng Thượng đế trở về trời thành hai vị thánh bất tử thì La Bình cũng được phong là Công chúa Thượng Ngàn, thay cha đảm nhận công việc dưới trần, nghĩa là trông coi tất cả 81 cửa rừng và các miền núi non hang động, các miền trung du đồi bãi trập trùng của nước Nam. Tại Đông Cuông, Mẫu Thượng Ngàn nơi đây đã được hình tượng hóa bởi một nhân vật có thật trong lịch sử đó là Đông Quang Công Chúa, tên huý là Lê Thị Kiểm. Vua Lê Thái Tổ đã phong Bà là Lê Mại Đại Vương, sau khi Bà đã phù cho vua Lê đánh giặc. Căn cứ theo truyền thuyết và các bản văn chầu thì đền Bắc Lệ chính là nơi Lâm Cung Thánh Mẫu hiển linh, âm phù; đền Suối Mỡ là thắng tích lưu lại dấu vết bà tu tiên luyện đạo, còn đền Đông Cuông (Yên Bái) là nơi bà giáng sinh và ngự.

Đền thờ chính của Mẫu Thượng Ngàn: Đền thờ Mẫu Thượng Ngàn có ở khắp mọi vùng, nơi nào có rừng núi thì đều có đền Mẫu Thượng. Nhưng nổi tiếng bậc nhất vẫn là cụm di tích Đền Đông Cuông, Đền Vọng Đông và Đền Tuần Quán tại Yên Bái (là nơi Mẫu giáng làm con gái nhà tù trưởng họ Cao). Tiếp nữa có Đền Công Đồng Bắc Lệ và Đền Thất Khê tại huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn, tương truyền là nơi vua Lê Thái Tổ lập để ghi nhớ công ơn Mẫu giúp vua. Ngoài ra còn có Đền Suối Mỡ thuộc Bắc Giang (xưa thuộc Hà Bắc, là nơi dấu tích của Mẫu khi xưa học đạo), Đền Tam Cờ trên tỉnh Tuyên Quang, Đền Mẫu Thượng thuộc thị xã Lào Cai.

Quan Lớn Đệ Tam Thoải Cung

Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ hay còn gọi là Tam Phủ Vương Quan là vị quan lớn nổi tiếng trong điện thần Tam, Tứ Phủ. Quan lớn vốn là con trai thứ ba của Vua Cha Bát Hải Động Đình, là người rất được vua cha yêu quý nên giao quyền cai quản chốn Long Giai Động Đình, cận bên cạnh phụ vương. Dưới thời Hùng Vương, theo lệnh vua cha, ông cùng hai người em (có sách nói là hai người thân cận) lên giúp Vua Hùng chỉ huy thuỷ binh, lúc này ba vị giáng ở đất Hà Nam, được nhân dân tôn thành “Tam Vị Đại Vương”, trong đó, Quan Đệ Tam là người anh cả trong ba người. Nhưng lại có điển tích nói rằng, chỉ có một mình Quan Tam Phủ giáng trần vào nhà quý tộc dưới thời Hùng Vương, ông trở thành vị tướng quân thống lĩnh ba quân thuỷ lục. Sau đó trong một trận quyết chiến, ông hy sinh (phần thượng thân (đầu) và hạ thân (mình) trôi về hai bên bờ con sông Lục Đầu). Ông hoá đi, về chầu Long Cung, là người cầm cân nảy mực, thông tri Tam Giới, quyền cai các thanh đồng đạo quan (vậy nên có khi người ta còn gọi là Ông Cai Đầu Đồng). Khi thanh nhàn ông truyền ba quân tập hợp thuyền bè, dạo chơi khắp miền, trên sông dưới suối, phù hộ cho ngư dân.

Hầu như những người đã ra hầu Tứ Phủ, khi hầu hàng Quan Lớn, ai cũng phải hầu về Quan Đệ Tam. Có thể coi ông là vị Quan Lớn tài danh hàng đầu. Khi ngự đồng, ông mặc áo trắng thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ điệp và ông múa đôi song kiếm. Khi có đại tiệc khai đàn mở phủ, người ta thỉnh quan về chứng đàn Thoải Phủ (gồm có long chu phượng mã, lốt tam đầu cửu vĩ…: tất cả đều màu trắng).

Trong hàng quan lớn, vì danh tiếng bậc nhất nên Quan Lớn Đệ Tam cũng được lập đền thờ phụng ở khắp nơi. Nhưng đầu tiên phải kể đến Đền Lảnh Giang ở Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam (gần Hưng Yên) tương truyền là nơi hạ thân của ông trôi về, sau đó phải nói đến Đền Xích Đằng cũng thuộc Hà Nam (hai ngôi đền này chỉ cách nhau cây cầu Yên Lệnh nối hai bờ sông Lục Đầu) là nơi thờ thượng thân của ngài. Ngoài ra còn nhiều ngôi đền trên cả nước thờ Quan đệ Tam.

Cô Chín Sòng Sơn

Cô Chín Sòng Sơn là một thánh cô quyền uy với nhiều quyền phép thiêng biến hóa. Sự tích Cô Chín Sòng Sơn nổi tiếng khắp vùng xứ Thanh. Hiện chưa thấy tài liệu nào nói về việc Cô Chín giáng sinh vào một nhân vật nào trên trần gian. Như vậy, thân thế của Cô nghiêng về phía thiên thần. Ai cầu đảo cô đều sắm sửa lễ vật: Nón đỏ, hài hoa, vòng hồng hay võng đào.

Dân gian kể sự tích Cô Chín Sòng Sơn rằng Cô là vị tiên Cô tài phép theo hầu Mẫu Liễu Hạnh trong vùng Sòng Sơn đất Thanh Hóa. Tuy nhiên cũng có tài liệu cho rằng Cô hầu bên Chầu Chín Cửu Tỉnh hay Mẫu Thoải. Cô tài giỏi có phép tiên thần thông quảng đại lại tinh thông thuật xem bói, 1000 quẻ cô bói ra thì không sai một quẻ nào. Ai mà phạm tội hay thất kính, cô về tâu với Thiên Đình cho thu giam hồn phách rồi cô hành cho dở điên, dở dại. Khi thanh nhàn cô lại dạo chơi khắp vùng trời Nam, đất Việt, thấy xứ Thanh cảnh lạ đẹp vô biên, cô liên cho hội họp thần nữ năm ba vạn cát, lấy gỗ sung làm nhà còn cây si thì cô mắc võng. Nhân dân cầu đảo thấy linh ứng bèn lập đền thờ cô ngay tại đất này.

Cô Chín Sòng Sơn là một thánh cô có nhiều quyền phép. Những người có căn Cô Chín thường có khả năng xem bói, chữa bệnh và gọi hồn. Cô Chín rất hay ngự đồng. Hết các thanh đồng khi Hầu Thánh đều có hầu giá Cô Chín. Khi giáng hầu Cô Chín thường mặc áo hồng phơn phớt màu đào phai và cô múa quạt tiến Mẫu. Đôi khi Cô cũng múa cờ tiến Vua, cũng có khi cô thêu hoa dệt lụa, rồi lại múa cánh tiên. Ai cầu đảo cô đều sắm sửa lễ vật: Nón đỏ, hài hoa, vòng hồng hay võng đào.

Chầu Lục Cung Nương

Chầu Lục Cung Nương là vị chầu bà nức danh và hay về ngự đồng nhất trong các vị chầu bà. Chầu Lục Cung Nương là vị Thánh chầu thứ sáu trong hàng Tứ phủ thánh Chầu. Ngoài danh hiệu Chầu Lục, ngài còn có các danh hiệu khác như Chúa Lục Cung Nương, Chúa Bà Lục Cung, Lục Cung Tiên Chúa, Mế Lục Cung Nương….

Chầu vốn là thôn nữ dân tộc Nùng họ Trần nhà lệnh tộc , sinh ngày 10 tháng 9 ở huyện Hữu Lũng Lạng Sơn, thời Lê Trung Hưng. Chầu hóa thần ngày 20 tháng 9 (âm lịch). Sau khi về trời, Chầu sơ ý đánh rơi chén ngọc khi dâng lên Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng Đế nên bị trắc giáng xuống hạ giới kỳ hạn 15 năm để tu đạo, giáo hoá dân chúng. Lần thứ 2 xuống trần, Chầu giáng xuống nhà họ Quách cũng tại Hữu Lũng – Lạng Sơn vào ngày Mão, tháng 2 năm Kỉ Mão. Ở trần gian được 19 năm thì mãn hạn về Chầu Đế Đình, nhưng Chầu còn thương nhớ phụ mẫu nơi trần gian nên Đức Vua Cha cho Chầu Bà hiển Thánh, quyền cai giữ sơn trang xứ đất Chín Tư, Hữu Lũng.

Chầu Lục Cung hiển ứng nhiều lần giúp dân, dân gian lưu truyền Chầu Bà thường cùng các bạn Tiên nàng giả làm các cô gái người Nùng bán hàng, ung dung đùa cợt khách qua đường, trừng trị kẻ xấu xa, bảo vệ người lương thiện. Chầu Lục là vị Thánh bà tài phép, khéo léo, thương người luôn thường làm việc thiện cho dân chúng. Chầu hồi tiên được Mẫu cho làm Chầu Lục Cung nương cai quản núi rừng. Bà hay về ngự đồng trong trang phục màu lam, đội khăn buồm, khai quang múa mồi, cũng có khi Chầu chứng mâm trầu trình, hoặc sang khăn cho Tân đồng.

Đền thờ Chầu ở thôn Chín Tư, Hòa Lạc, Hữu Lũng, Lạng Sơn. Ngoài ra, khắp đền phủ trên đất nước, đặc biệt là những vùng rừng núi đều thờ Chầu Lục Cung Nương.

Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh

Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh. Hay còn gọi là Ông Lớn Tuần Tranh. Ông là con trai thứ năm của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Ông cũng giáng dưới thời Hùng Định Vương (Hùng Triều Thập Bát), trong một gia đình ở phủ Ninh Giang (nay là Hải Dương), ông cũng là vị tướng quân tài ba kiêm lĩnh thuỷ bộ, được giao quyền trấn giữ miền duyên hải sông Tranh. Ông đã lập được nhiều công lao to lớn nên được sắc phong công hầu. Quan Tuần Tranh bị mắc hàm oan, bị đem đày lên chốn Kì Cùng, Lạng Sơn. Tại đây, ông đã tự sát mong rửa oan, chứng tỏ mình vô tội, ông hoá xuống dòng sông Kì Cùng. Về lại nơi quê nhà, ông hiện thành đôi bạch xà, thử lòng ông bà nông lão, sau đó được ông bà nông dân nuôi nấng như thể con mình. Nhưng khi quan phủ biết chuyện ông bà nông lão tậu gà để nuôi đôi bạch xà, liền bắt ông bà phải lên cửa công chịu tội và giết chết đôi rắn kia đi. Hai ông bà thương xót, xin thả rắn xuống dòng sông Tranh, lạ thay khi vừa thả đôi bạch xà xuống thì chỗ đó tạo thành dòng xoáy dữ dội.

Đến thời Thục Phán An Dương Vương, vua tập hợp thuyền bè để chống giặc Triệu Đà ở ngay bến sông Tranh, nhưng tại chỗ dòng xoáy đó, thuyền bè không tài nào qua được mà lại có cơn giông tố nổi lên giữa dòng. Vua bèn mời các vị lão làng đến lập đàn cầu đảo thì lập tức sóng yên bể lặng, hơn nữa, quân sĩ ra trận cũng được thắng to. Ghi nhớ công đức, vua Thục giải oan cho ông và phong là Giảo Long Hầu. Sau này ông còn hiển thánh linh ứng, có phép nhà trời, cai quản âm binh, ra oai giúp dân sát quỷ trừ tà, dẹp hết những kẻ hại nước hại dân.

Trong hàng Năm Toà Ông Lớn, ông được thỉnh cuối cùng nhưng lại hay ngự về đồng nhất (bất cứ ai hầu Tứ Phủ, bất cứ dịp tiệc, đàn lễ nào đều phải thỉnh Quan Tuần Tranh về ngự). Khi ngự đồng ông mặc áo lam thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ tán đàn rồi múa thanh long đao. Khi có đại đàn mở phủ hay bất cứ lễ tiệc nào, sau khi thỉnh các quan lớn về, đều phải đợi đến khi giá Quan Lớn Đệ Ngũ về chứng một lần hết tất cả các đàn mã sớ trạng rồi mới được đem đi hoá.

Quan Lớn Tuần Tranh cũng được thờ ở rất nhiều nơi nhưng phải kể đến hai nơi nổi tiếng bậc nhất: Đền Ninh Giang hay Đền Tranh và Đền Kì Cùng.

Chầu Tám Bát Nàn Đông Nhung Đại Tướng Quân

Chầu Tám Bát Nàn còn được gọi là Chầu Bát Nàn hay Bát Nàn Đại Tướng Đông Nhung, là vị Thánh Chầu thứ tám trong hàng Tứ Phủ Thánh Chầu, đứng sau Chầu Bảy Kim Giao và trước Chầu Chín Cửu Tỉnh, là vị thánh Chầu thuộc miền Thượng ngàn. Chầu Tám Bát Nàn giáng hạ dưới thời nước ta còn trong ách đô hộ của nhà Đông Hán, với tên gọi là Vũ Thị Thục Nương, con gái của thầy thuốc Vũ Chất, nguyên quán ở Phượng Lâu, Bạch Hạc nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Một hôm đi dạo qua ngọn núi thấy ngôi đền thờ Sơn Tinh Công chúa hoang tàn đổ nát, ông phát tâm tu sửa đền. Liền đó về bà Nguyễn Thị Mầu thụ thai đến ngày rằm tháng 8 sinh được người con gái đặt tên Vũ Thị Thục Nương.

Thục Nương xinh đẹp, đảm đang lại giỏi cung kiếm, Thái thú Tô Định si mê muốn kết duyên với nàng nhưng không nàng không chịu. Hắn cho người giết cha nàng và lang quân của nàng là Phạm Danh Hương. Nợ nước thù nhà, nàng lập quân khởi nghĩa ở Tân La thì chầu bà đã nghe tiếng Hai Bà Trưng hiệu triệu, nhưng còn băn khoăn chưa biết có nên tập hợp nghĩa quân cùng với Hai Bà Trưng không, thì vào đêm đó chầu nằm mơ thấy nữ thần vâng lệnh Ngọc Hoàng xuống trao cho chầu bà lá cờ thần và khuyên chầu hội nghĩa theo Hai Bà Trưng phất cờ dẹp giặc, và Chầu đã làm theo ý trời về Mê Linh tụ nghĩa. Chầu được Bà Trưng Vương phong cho là Bát Nàn Đông Nhung Đại Tướng Quân, cùng chầu Bảy Kim Giao và Lê Chân Tướng Quân (Thánh Thiên Công Chúa) trấn giữ miền duyên hải từ Hải Phòng đến Thái Bình.

Năm 43 (SCN), sau ba năm nước nhà độc lập, quân Đông Hán dưới quyền chỉ huy của Mã Viện, quay lại xâm chiếm nước ta, bà cùng với Hai Bà Trưng kiên cường đánh trả, nhưng do thế yếu cuối cùng chầu cũng theo gương Hai Bà, trẫm mình để bảo toàn khí tiết. Thi thể của Chầu trôi dạt đến đâu nhân dân lập đền thờ ngài ở đó.

Chầu Bát cũng thường hay ngự đồng, Chầu mặc áo màu vàng, đội khăn vành dây màu vàng, múa cờ kiếm. Đền thờ Chầu là đền Tiên La ở thôn Đoan Hùng, Hưng Hà, Thái Bình, bà nổi tiếng trong sử sách và nhiều nơi tôn xưng là Thánh Mẫu.

Chầu Bé Bắc Lệ

Chầu bé Bắc Lệ là vị thánh chầu rất linh thiêng và thường xuyên hiển linh ngự đồng, chầu đứng cuối cùng trong hàng Tứ Phủ Chầu Bà nên được gọi Chầu Bé. Chầu vốn gốc người Nùng giáng sinh xuống miền Bắc Lệ, Hữu Lũng, Lạng Sơn dưới thời vua Lê Thái Tổ. Tương truyền rằng, Chầu Bé Bắc Lệ là do Mẫu Thượng Ngàn hóa thân, chầu có phép thần thông biến hiện do Đức Thái Tổ ban quyền, ra sức giúp vua Lê Thái Tổ trong cuộc kháng chiến mười năm chống quân Minh, và sau này được vua phong là Lê Mại Đại Vương. Vì vậy, đôi khi Chầu Bé cũng được người ta đồng nhất với Chúa Bà Sơn Trang.

Cũng có lịch sử ghi chép rằng, Chầu Bé sau này cũng là vị thánh luôn hầu cận Bà Chúa Thượng Ngàn. Chầu Bé có khả năng lay động núi trời, đôi lúc chầu lại lấy tàu lá giả làm hàng bán để trêu đùa người trần. Mặc khác, chầu cũng dạy bảo người dân chăm chỉ làm ăn, lên núi xuống rừng để trồng trọt chăn nuôi. Có điều lành thứ dữ, chầu đều mách bảo cho người trần biết. Vậy nên, Chầu Bé là vị Thánh nổi danh linh thiêng và được rất nhiều nơi thờ phụng, kêu cầu mỗi dịp lễ lớn, lễ nhỏ.

Tuy thứ bậc chầu cuối cùng trong hàng Tứ Phủ Chầu Bà nhưng không một ai hầu mà không thỉnh chầu về ngự. Khi Chầu ngự về đồng thường hay mặc áo đen hoặc áo xanh chàm (trước đây chầu chỉ mặc quầy và áo ngắn đến hông), chân đi xà cạp, trên vai đeo gùi hoa. Khi Chầu về đồng, sau khi hành lễ khai quang rồi múa mồi.

Đền thờ Chầu Bé là ngôi đền nhỏ nằm trên đồi cao, ở phía mặt tiền của đền Bắc Lệ thuộc xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Đền Bắc Lệ thờ Bà Chúa Thượng Ngàn, và Chầu Bé được suy tôn trong đền là một vị thánh Chầu Bà thuộc hệ thống thờ Mẫu của người Việt. Thông thường, chúng ta phải khấn tấu Chầu Bé trước khi khấn Mẫu. Vào ngày lễ, người dân địa phương và du khách thường múc nước suối đền Bắc Lệ để lau tượng như một nghi thức thiêng liêng trong lễ tắm ngai.

Cậu Bé Đồi Ngang

Có thể nói trong hàng Tứ phủ Thánh cậu, Cậu Bé Đồi Ngang hay còn được gọi là Cậu Quận Đồi Ngang, là một trong những cậu bé hoàng anh linh, tài trí, quyền uy hàng đầu. Sự tích về cậu gắn liền với lần giáng trần thứ 3 của Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại vùng Đồi Ngang, Phố Cát.

Thánh Mẫu tiên chúa tái tam giáng thế, hiển thánh tại vùng đất Nho Quan, Ninh Bình vào khoảng thế kỷ XVI. Thánh Chúa biến hóa thành cô thôn nữ dọn quán bán nước ven đường ( trước cổng đền ngày nay ) quan sát, dùng phép thuật trừ tà ác, dâm tặc vảo vệ nhân dân. Thánh Mẫu biến hóa, cải trang thành người trần để thử lòng trần để thử lòng trần gian.Lúc bấy giờ, có một người con trai họ Mai ở Thanh Hóa cũng cùng cành đạo đày, bị giáng trần. Cơ duyên đã đưa họ gặp gỡ, tâm đầu ý hợp, trong cuộc trò truyện họ nghĩ về cuộc sống gia đình hạnh phúc với những đứa con. Bỗng nhiên có tiếng khóc của một đứa bé . Và đó chính là đứa con ước nguyện của Mẫu Liễu Hạnh và người con trai họ Mai . Theo thời gian cậu bé lớn lên và trưởng thành, khí phách hiên ngang , giúp dân giúp nước .Tương truyền rằng cậu là sống phóng khoảng , cậu sẵn sàng cho một người nào đó tất cả nếu thuận lòng, nếu người đó có tâm sáng. Nhưng cũng không kém phần dứt khoát của một chàng trai, nếu không bằng lòng với ai, cậu sẽ lấy hết những gì mà người đó có . Vì vậy Đền Đồi Ngang ngoài thờ Mẫu Liễu Hạnh , còn là nơi linh thiêng thờ cậu bé Đồi Ngang.

Cậu Bé Đồi Ngang, Cậu Quận Đồi Ngang là một trong những cậu bé hay giáng đồng nhiều nhất trong hàng Tứ Phủ Thánh Cậu. Khi loan giá ngự đồng cậu thường trong trang phục áo cánh màu xanh lá, đầu vấn khăn đầu rìu, chân quấn xà cạp, đi hài thêu hoa. Cậu về làm lễ khai quang, tấu hương lạy mẫu rồi múa hèo, múa gậy, bắn cung, nhảy ngựa…và hò reo vang lừng, sau đó ngự tọa nghe văn.

Ông Hoàng Bảy Bảo Hà

Quan Hoàng Bảy là một nhân vật có thật trong lịch sử Việt Nam, còn trong Tín ngưỡng thờ Mẫu, ông là một trong những vị thánh được người trong và ngoài đạo nhắc đến nhiều nhất. Ông là con Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình. Theo lệnh vua, ông giáng hạ phàm trần, trở thành con trai thứ bảy trong danh tộc họ Nguyễn, vào cuối thời Lê. Vào triều Lê Cảnh Hưng (1740- 1786), tại vùng Bảo Hà và biên cương phía Bắc, có giặc Trung Quốc từ Vân Nam tràn sang cướp bóc, đốt phá. Triều đình bèn cử viên tướng thứ bảy họ Nguyễn chính là Quan Hoàng Bảy lên trấn thủ vùng Quy Hoá. Danh tướng họ Nguyễn đưa đội quân tiến dọc sông Thao đánh đuổi bọn giặc cỏ, giải phóng Khảu Bàn và xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn, cũng vì lý do này dân gian gọi ông là Quan Hoàng Bảy Bảo Hà.

Đối với giặc ngoại xâm, tướng Nguyễn Hoàng Bảy đánh đâu thắng đó, phá tan thế giặc ngoại xâm. Sau đó thống lĩnh quân thủy và quân bộ tiến đánh giặc ở Lào Cai, giải phóng các châu thuộc phủ Quy Hoá (Yên Bái, Lào Cai ngày nay). Tại đây ông đã tổ chức các thổ ty, tù trưởng luyện tập binh sỹ… và trấn giữ vùng biên ải nơi Bảo Hà, Lào Cai. Tại đất Bảo Hà, ông thống lĩnh lục thủy, đánh đuổi quân giặc về vùng Vân Nam, sau đó ông chiêu dụ các thổ hào địa phương đón người Dao, người Thổ, người Nùng lên khẩn điền lập ấp.

Sau này trong một trận chiến đấu không cân sức, Ông Bảy bị giặc bắt, chúng tra khảo hành hạ dã man, nhưng ông vẫn một lòng kiên trung, quyết không đầu hàng, cuối cùng, không làm gì được, chúng sát hại ông rồi mang thi thể vứt xuống dòng sông. Kì lạ thay, di quan của ông dọc theo sông Hồng, trôi đến phà Trái Hút, Bảo Hà, Lào Cai thì dừng lại. Còn một điều kì lạ nữa là khi ông bị giặc sát hại, thì trời bỗng chuyển gió, mây vần vũ, kết lại thành hình thần mã (ngựa), từ thi thể ông phát ra một đạo hào quang, phi lên thân ngựa, đến Bảo Hà thì dừng lại, trời bỗng quang đãng, mây ngũ sắc kết thành hình tứ linh chầu hội. Sau này khi hiển linh ông được giao quyền cho trấn giữ đất Lào Cai.

Ông nổi tiếng là một Ông Hoàng không chỉ giỏi kiếm cung mà còn rất phong lưu: khi thanh nhàn ông ngả bàn đèn, uống trà mạn Long Tỉnh, ngồi chơi tổ tôm, tam cúc, xóc đĩa… lúc nào cũng có thập nhị tiên nàng hầu cận, ông cũng luôn khuyên bảo nhân dân phải ăn ở có nhân có đức, tu dưỡng bản thân để lưu phúc cho con cháu.

Ông Bảy là Ông Hoàng hay ngự về đồng nhất, cũng bởi vì trong hàng Tứ Phủ Ông Hoàng, ông rất hay chấm lính bắt đồng. Khi ngự về đồng, ông thường mặc áo lam hoặc tím chàm (thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét lam, cài chiếc kim lệch màu ngọc thạch. Ông ngự về tấu hương, khai quang rồi cầm đôi hèo, cưỡi ngựa đi chấm đồng. Đến giá Ông Bảy về ngự, nếu ông ném cây hèo vào người nào thì coi như ông đã chấm đồng người đó.

Đền thờ Ông Hoàng Bảy được lập tại nơi năm xưa di hài của ông lưu lại là Đền Bảo Hà, nằm ở chân đồi Cấm, bên bờ thượng lưu sông Hồng, ở bên bến phà Trái Hút, thuộc xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Cô Bơ Thoải Cung

Nhắc đến hệ thống các Thánh cô trong Tứ Phủ, không ai là không biết cô Bơ Thoải Cung hay còn gọi là cô Bơ Bông.

Tương truyền, cô Bơ là con gái Vua Thủy Tề dưới Thủy Cung. Cũng có tài liệu ghi chép rằng, cô là con gái của Long Vương, hầu cận cho Đức Vương Mẫu. Cô được giáng sinh xuống trần thế vào thời Lê Trung Hưng làm con Đức Thái Bà. Cô đã có công giúp vua Lê Lợi trong việc kháng quân Minh trong những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa, sau này còn linh ứng giúp vua Lê trong công cuộc Phù Lê dẹp Mạc.

Một điển tích khác viết về Cô Bơ như sau: trong những ngày đầu kháng chiến, lực lượng quân ta vẫn rất yếu và thường xuyên bị địch truy đuổi. Một lần khi vua Lê bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Bờ, vua đã gặp cô Bơ đang tỉa ngô liền xin cô giúp đỡ. Cô Bơ lập tức đóng giả vua Lê thành anh trai mình, đưa quần áo thường cho nhà vua, chôn hoàng bào dưới ruộng ngô và giả vờ đang tỉa ngô. Nhờ vậy, nhà vua thoát khỏi sự truy đuổi của quân địch. Vua rất cảm kích tấm lòng của cô, hẹn ngày sau khi đại thắng khải hoàn sẽ rước cô về triều đình phong công cho cô đồng thời phong cô làm phi tử. Sau đó, cô vẫn tận tâm hết lòng giúp đỡ quân vua Lê bằng cách bí mật chở quân sĩ, lương thực phẩm qua sông,… Đến ngày đại thắng khải hoàn, nhà vua nhớ về cô gái năm xưa đã từng giúp đỡ mình và lời hứa với cô, liền sai quân đến đón. Nhưng cô Bơ đã thác tự từ bao giờ. Có người kể rằng, cô đến lúc thác tự vẫn kiên trinh một lòng chờ đợi mà không kết duyên với ai. Cũng có bô lão nói rằng, cô đã trở về Thủy Cung sau khi giúp vua dẹp giặc. Sau này, cô vẫn thường hiển linh giúp đỡ người dân ở cùng ngã ba sông, độ thuyền bè qua sông thuận buồm xuôi gió. Nhân sinh ai gặp điều trắc trở đến van cửa Cô Bơ đều được Cô phù hộ như ý.

Khi hầu đồng giá cô Bơ, cô thường mặc áo trắng, đầu đội khăn đóng (khăn vành dây) có thắt lét trắng (có khi dùng thắt dải lưng hồng) rồi cô cầm đôi mái chèo, bẻ lái dạo chơi khắp nơi. Lúc chèo thuyền có khi có còn khoác thêm chiếc áo choàng trắng, trên khăn có cài ba nén hương, bên hông có dắt tiền đò, rồi khi chèo thuyền xong, cô lại cầm dải lụa để đi đo gió đo nước đo mây. Lúc cô an tọa người ta thường xin cô thuốc để trị bệnh, vậy nên Cô Bơ ngự về thường hay làm phép “thần phù” để ban thuốc chữa bệnh.

Ông Hoàng Bơ Thoải

Quan Hoàng Bơ là vị Quan Hoàng anh linh, nổi tiếng trong hàng các Hoàng, ông thuộc dòng dõi thoải cung. Quan Hoàng Bơ là con trai thứ ba vua Bát Hải Động Đình, ngài thường ngự dưới Thoải Cung, trông coi Đền Vàng Thủy Phủ. Sự tích về Quan Hoàng Bơ Thoải vẫn còn lưu truyền rằng, ngài thường hiện lên thành vị Hoàng Tử dung mạo hơn người, cưỡi cá chép vàng biến trên mặt nước. Đôi khi, ngài lại biến hiện để ngao du thiên hạ, cùng các bạn tiên uống rượu, đánh cờ,… hưởng thử các thú vui của bậc cao nhân. Theo những điển tích còn truyền miệng, ngài là người em thân cận của Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ, khi rảnh rỗi ngài thường rong chơi khắp chốn trên thuyền rồng. Nhưng thấy cảnh dân chúng còn nghèo khổ lầm than, ông đã nhận lệnh Vua Cha lên làm khâm sai cõi phàm trần, mở hội Phúc Duyên, giáng phúc cho dân buôn bán làm ăn thuận buồm xuôi gió, người có học đỗ đạt thành tài, xã hội bình an yên ấm.

Sự tích về Quan Hoàng Bơ Thoải đến nay vẫn có các dị bản, tuy nhiên phổ biến nhất là sự tích lưu truyền tại Thái Bình. Tại gia trang, Thái Bà nằm mộng thấy một người con gái mặc xiêm y trắng, tay ôm đứa bé trai tuấn tú kháu khỉnh tới và nói vì cảm tạ tấm lòng từ bi công đức của bà, sẽ cho Hoàng Thái tử Long cung đầu thai làm con để báo hiếu và lập công cho đất nước. Quả đúng như vậy, sau giấc đó Thái Bà sinh hạ một bé trai khôi ngô nhanh nhẹn, mắt sáng tinh anh, bèn đặt tên là Trần Minh Đức.

Giống như lời chiêm bao khi xưa, cậu bé tám tháng đã biết nói, chín tháng biết đi, năm tuổi đã đọc thông sách vở. Đến năm hai hai tuổi, Minh Đức đã ngày đêm nghiên cứu Phật Pháp tại thảo am, không màng hôn nhân phu phụ. Sau khi cha mẹ về tiên, thì ông cũng đi đâu không ai hay biết. Ngôi đền và thảo am cũng dần nhang lạnh khói tàn. Rồi một đêm, dân làng ai ai cũng đều mơ thấy có một vị hoàng tử khôi ngô tuấn tú, đầu đội kim khôi, mình mặc áo trắng lưng giắt kiếm bạc, cưỡi trên đôi bạch xà. Người báo mộng rằng mình là Hoàng Tử Long Cung, giáng sinh xuống trần làm con Thái Ông Thái Bà nay đã hết hạn phải về Thủy Cung. Hoàng Tử nói khi dân gặp nạn ắt sẽ đến cứu, về sau cũng sẽ âm phù cho dân sống ấm no, không quên dạy dân thờ phụng Thánh Mẫu Thủy Cung cho nghiêm cẩn. Sáng dậy, ai cũng thuật lại cho nhau giấc mơ y hệt, bèn cung kính lập thêm long ngai bài vị Minh Đức Hoàng Bơ Thoải tại đền Thánh Mẫu Thoải Phủ. Sau này, khi đê Ngự Hàm vị bỡ, dân chúng trở tay không kịp bèn lập đàn cầu đảo. Hoàng Thái Tử Long Cung đã hóa thành bạch xà xuất hiện hàn long. Sau khi đê được hàn xong thì Bạch xà cũng biến mất lúc nào không hay. Dân làng đều biết là Minh Đức hoàng tử cứu giúp bèn về đền lễ tạ, sau này xây một ngôi đền ngay chỗ vỡ đê để thờ Thánh Hoàng Bơ Thoải, thuộc Đông Long, Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

Quan Hoàng Bơ là một trong ba vị Thánh Hoàng hay giá ngự về đồng nhất trong Thập vị Thánh Hoàng. Khi giá ngự đồng, ông mặc áo trắng (có thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), thắt đai vàng, đầu đội khăn xếp có thắt lét trắng, cài chiếc kim lệch màu trắng bạc. Có khi ông ngự về tấu hương, khai quang rồi một tay cầm mái chèo, một tay cầm quạt thong thả bẻ lái dạo chơi, cũng có khi ông cầm đôi hèo hoa, rong ruổi cưỡi ngựa đi ngao du khắp sơn thủy.

Cô Đôi Thượng Ngàn

Cô Đôi Thượng là vị Thánh Cô nổi tiếng trong hệ thống Tam, Tứ Phủ, nổi danh trên sơm lâm thượng ngàn tối linh. Tương truyền rằng, Cô Đôi Thượng Ngàn là Sơn Tinh Công Chúa, con Vua Đế Thích trên Thiên Cung. Nghe lệnh Vua Cha, Cô giáng trần xuống đất Ninh Bình làm con gái một quan lang đức độ họ Hà – chúa đất người Mường ở vùng rừng núi Nho Quan. Sau này, Cô được Mẫu Thượng Ngàn yêu thương, cho theo học đạo phép để giúp dân. Khi về thiên, Cô theo hầu bên Mẫu, được Mẫu Thượng Ngàn truyền dạy cho vạn phép và cùng với tấm lòng nhân hậu của mình, Cô Đôi đã dạy người rừng biết thống nhất về ngôn ngữ. Cô thường về ngự cảnh sơn lâm núi rừng ở đất Ninh Bình quê nhà lúc thanh nhàn.

Truyền thuyết khác về Cô kể rằng, Cô Đôi Thượng Ngàn cũng là tiên Cô cai quản kho lộc Sơn Lâm Sơn Trang bởi vậy người trần gian ai nhất tâm thì thường được Cô Đôi ban thưởng, ngược lại có nợ mà không mau trả lễ sẽ bị Cô bắt đền nặng hơn. Đền bồng lai thờ cô đôi thượng ngàn có một thần tích khác về Cô Đôi Thượng Ngàn: Ngọc Hoàng cảm động tấm lòng thương người của đôi vợ chồng họ Hà sai Tiên Cô giáng sinh, đầu thai làm con ông bà.

Mười hai tháng sau bà sinh ra cô. Lúc đó có đôi chim khách đến bên cửa sổ hót không ngừng, mừng tiên Cô giáng sinh trần gian. Gia đình Cô chuyển tới làm quan ở huyện Cao Phong, châu Mai Đà, tỉnh Hưng Hóa. Lúc bấy giờ, Đức Thánh Mẫu Thượng Ngàn hóa thành một bà lão đói khát, bệnh tật để thử lòng người trần gian, độ cho người có tâm, bèn nằm lả ở gốc cây đa dưới chân núi Rồng. Với lòng thương người của mình, cô giúp đỡ bà lão nghèo khổ. Vì thấy được tấm lòng nhân hậu, đức độ, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khổ của Cô và Cô là người con gái người ngoan ngoãn, hiền lành được mọi người yêu quý; kiếp trước là tiên nữ trên tiên giới, nên Mẫu độ cho cô thành tiên, trở về bên hầu cận bên cạnh Mẫu, cứu giúp nhân gian.

Cô Đôi thường là giá cô ngự về đầu tiên (mở khăn cho hàng cô) để chứng lễ. Khi cô về ngự thường mặc áo lá xanh hoặc quầy đen và áo xanh (ngắn đến hông), trên đầu có dùng khăn (khăn von hoặc khăn vấn) kết thành hình đóa hoa, cũng có một số nơi dâng cô áo xanh, đội khăn đóng (khăn vành dây) và thắt lét xanh, hai bên có cài hai đóa hoa.

Mẫu Đệ Tam Thoải Cung

Thánh Mẫu Đệ Tam là vị nữ thần tối ca thứ 3 trong Tam Toà Thánh Mẫu của Tam, Tứ Phủ. Mẫu Thoải tức là Mẫu Thủy hay còn gọi là Thủy Cung Thánh Mẫu. Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn đã ra đời từ rất lâu trước cả Mẫu Liễu Hạnh, bà cai quản vùng sông nước của nước Nam ta.

Mẫu Thoải cùng như Mẫu Thượng Ngàn có nhiều thần tích khá khác nhau, không được thống nhất như Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Nổi bật là sự tích Mẫu Thoải xuất thân là con gái Long Vương kết thân với Vua Kinh Dương Vương sau này bà đã sinh ra Sùng Lãm chính là vua Lạc Long Quân. Vì nàng là con gái Long Vương nên được làm nhiệm vụ cai quản vùng sông biển, ao hồ. Một truyền thuyết Mẫu Thoải ở đền Dùm – Tuyên Quang; Đền Dầm, Đền Xâm Thị – Thường Tín – Hà Nội: Theo truyền thuyết này thì Mẫu Thoải cũng xuất thân là con gái của Vua Thủy Tề, nhưng lại kết duyên cùng Kính Xuyên (là con Vua Đất). Do bị Thảo Mai gieo oan, Kính Xuyên không nghe lời thanh minh, ghen tuông mù quáng, một mực bắt đóng cũi bỏ bà lên rừng cho thú dữ ăn thịt. Ở nơi rừng núi, bà gặp được Liễu Nghị, nhờ ông mang về đến chốn Long Cung để vua cha thấu hêt sự tình. Sau đó bà được rước về Thoải Phủ, kết duyên cùng Liễu Nghị, người được giao cho chức Quốc Tế Thủy Quan.

Bà đã âm phù giúp nhiều triều Vua Lê, Lý, Trần chống giặc ngoại xâm, Bà còn phù hộ cho nhân dân ấm no hạnh phúc, che chở vùng biển cả sông nước nước Nam. Trên cả nước ta hiện có một số đền thờ Mẫu Thoải như; Đền thượng Tuyên Quang, Đền Ỷ La Tuyên Quang, Đền Dầm, đền Mẫu Thoải Lạng Sơn…

Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn

Chầu Bà Đệ Nhị Thượng Ngàn vốn là Thiên Thai tiên nữ, là con của vua Đế Thích. Trong hàng Tứ Phủ Chầu Bà, bà là vị Chầu mang quyền hành tối cao của tòa Sơn Trang. Bà cai quản 36 động sơn trang đất – những vùng được sắc phong là Đông Cuông, Tuần Quán, Bảo Lạc, Hà Giang, Tuyên Quang.

Sự tích Chầu Đệ Nhị được lưu truyền rằng: Đông Quang Công Chúa (Chầu Đệ Nhị) tên húy là Lê Thị Kiểm. Bà là vợ ông Hà Văn Thiên là người Tày Đông Cuông được triều đình giao cai quản vùng Đông Cuông và ngoại vi. Ông Thiên cũng là hậu duệ của trại chủ Quy Hóa – Hà Đặc, Hà Bổng và hi sinh trong chiến tranh chống quân Nguyên. Ông bà sinh hạ được một con trai ( là Ông Hoàng Báo Đông Cuông). Khi Ông Thiên tạ thế, bà Kiểm và con trai ở lại Đông Cuông. Họ dạy dân lập ấn lập bản, trồng trọt chăn nuôi và chữa bệnh cứu người. Sau này khi tạ thế, Bà hóa thánh là Chầu Đệ Nhị hiển linh giúp dân vả phù giúp cho thuyền bè qua dòng sông Thao. Dân lập miếu thờ Ông bên Ghềnh Ngai ở hữu ngạn sông Hồng. Còn miếu thờ hai mẹ con Bà được lập tại bên tả ngạn đối diện, sau này được sang sửa và mang tên Đền Đông Cuông. Bà được coi là hoá thân của Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn.

Chầu Bà Đệ Nhị Thượng Ngàn là vị Chầu hay giáng đồng nhất trong hàng Chầu. Từ đồng tân đến đồng cựu ai cũng thỉnh Chầu về ngự để ban tài tiếp lộc sơn lâm sơn trang. Khi văn thỉnh Chầu cất lên: Dâng văn tiên thánh thượng ngàn Đông Cuông Tuần Quán giáng đàn hôm nay…. Chầu ngự về đồng ra tay dấu hai ngón tay phía bên phải, mặc y phục màu xanh lá cây giống người dân tộc, chít khăn buồm.

Đền Chầu Đệ Nhị nổi tiếng bốn phương chính là đền Đông Cuông. Cũng như Chầu Đệ Nhất, Chầu Đệ Nhị được thờ phụng ở bất cứ nơi nào có rừng núi có Mẫu Đệ Nhị ngự. Nhưng khi thỉnh chầu, người ta thường hay nghĩ tới Đền Đông Cuông là nơi in dấu rõ nhất ở tỉnh Yên Bái. Đây cũng chính là ngôi đền gắn liền với thân tích về Chầu Đệ Nhị.

Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Thánh Mẫu Liễu Hạnh chính là Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên, có khoa gọi bà là Đệ Nhị Địa Tiên, bà là thần chủ của Đình thần Tam, Tứ Phủ. Bà vốn là con vua Ngọc Hoàng có tên là Đệ Nhị Quỳnh Hoa công chúa với 3 lần giáng sinh xuống cõi trần.

Lần thứ nhất bà giáng vào nhà họ Phạm ở Quảng Nạp, Vỉ Nhuế, Ý Yên Nam Định. Bà có tên Phạm Tiên Nga và hưởng thọ 40 tuổi. Lần thứ hai bà giáng vào nhà họ Lê ở An Thái, Vụ Bản, Nam Định. Bà kết duyên cùng Trần Đào Lang, đến năm 21 tuổi thì về trời. Lần thứ ba bà giáng hiện tại Nga Sơn, Thanh Hóa hạ trần để tái hợp cùng Mai Sinh là hậu kiếp của Trần Đào Lang được hơn một năm thì mãn hạn hồi tiên.

Ngoài ra, Mẫu Liễu Hạnh còn có rất nhiều thánh tích khác để lại cho hậu thế. Nổi bật có thánh tích trong trận chiến Đèo Ngang Thánh Mẫu với tám vị Kim Cương, Tiên Chúa bị đưa về kinh hỏi tội. Sau khi nghe Tiên Chúa kể lại hành vi sai trái của Hoàng tử, Vua đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt, nói lời cảm tạ rồi chúc Tiên Chúa lên đường may mắn. Tiếp theo, đó sự tích Phùng Khắc Khoan đã gặp Liễu Hạnh công chúa cả thảy hai lần, và đều có xướng họa thơ: một lần gặp ở chùa Thiên Minh (Lạng Sơn) khi ông đi sứ về, một lần ở Hồ Tây (Hà Nội) khi ông cùng với hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi thuyền. Ngoài ra, còn có sự tích Mẫu giúp đỡ Vua Quang Trung, khi vua kéo quân ra bắc, Mẫu Liễu đã hóa thành một bà già dâng cháo cho quân Tây Sơn và độ cho cuộc chiến của vua Quang Trung thắng lợi tại thành Thăng Long, giải phóng đất nước. Liên quan đến thánh tích này là đền Dâu, đền Quán Cháo.

Thánh Mẫu Liễu Hạnh được thờ khắp nơi trên lãnh thổ Việt Nam, bà còn là một trong Tứ Bất Tử của nước ta, danh tiếng lừng lẫy.

About