Danh Sách Tổng Hợp

Top 10 Học trò xuất sắc của chủ tịch Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh (19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm 1969) là một nhà cách mạng, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam trong thế kỷ 20, một chiến sĩ cộng sản quốc tế. Người đã đào tạo ra những học trò xuất sắc phục vụ cho sự nghiệp Cách mạng nước nhà.

Đồng chí Hoàng Đình Giong

      Đồng chí Hoàng Đình Giong, sinh ngày 01/6/1904, tại làng Nà Toàn, về sau chuyển sang Thôm hoáng, xã Hạ Hoàng (nay là phường Đề Thám, Thành phố Cao Bằng)
       Những năm 1925-1926, Hoàng Đình Giong theo học Trường Bách nghệ ở Hà Nội. Ngay từ đó ông đã tham gia nhiều cuộc đầu tranh của thanh niên trí thức. Sau khi bị bọn thực dân Pháp đuổi học, ông trở về quê hoạt động cách mạng và cùng một số đồng chí tổ chức tuyên truyền tư tưởng yêu nước tại một số huyện trong tỉnh.
      Năm 1927, đồng chí quyết định ra nước ngoài hoạt động. Năm 1928, đồng chí được kết nạp vào tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên do lãnh tụ nguyễn Ái Quốc sáng lập. Đặc biệt từ khi tham gia các lớp huấn luyện của tổ chức Hội tại Long châu (Trung Quốc) đã giúp Hoàng Đình Giong nâng tầm nhận thức từ thanh niên giàu lòng yêu nước thành chiến sĩ cộng sản.
       Tháng 12/1929, đồng chí được kết nạp vào Đảng và được bầu làm Bí thư Chi bộ Hải ngoại (Long Châu- Trung Quốc). Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Hoàng Đình Giong, phong trào cách mạng ở Cao Bằng tiếp tục phát triển. Đồng chí đã chỉ đạo Đảng bộ Cao Bằng xuất bản tờ báo “Cờ đỏ” để tuyên truyền cách mạng, giác ngộ quần chúng.
          Trong những năm 1932-1935, đồng chí Hoàng Đình Giong đã có nhiều đóng góp trong việc chắp nối các mối liên lạc với các cơ sở Đảng ở Bắc kỳ. Tháng 3 năm 1935, Hoàng Đình Giong được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng.
        Cách mạng tháng 8/1945 thành công, đồng chí được Bác Hồ đặt tên là Võ Văn Đức
         Tháng 3 năm 1947, trên đường ra Bắc để báo cáo tình hình, đến Ninh Thuận bị quân Pháp tập kích, ông đã hy sinh ngày 17 tháng 3 năm 1947.       

Đồng chí Phạm Hùng

      Ông tên thật là Phạm Văn Thiện, sinh ngày 11 tháng 6 năm 1912 tại làng Long Hồ, huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long; nay là xã Long Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
     Lần đầu tiên được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1949, sau đó suốt thời gian từ năm 1956 đến năm 1967, đồng chí Phạm Hùng có may mắn được làm việc cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Suốt cả cuộc đời làm cách mạng của mình, đồng chí luôn luôn ngưỡng mộ Bác Hồ, cố gắng học tập, rèn luyện, làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Người.
          Năm 16 tuổi, ông tham gia cách mạng, hoạt động trong phong trào thanh niên, học sinh, tham gia tổ chức Nam Kỳ học sinh liên hiệp hội và Thanh niên cộng sản đoàn. Năm 1930, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
          Năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình. Song, do sự phản đối của dư luận trong nước cũng như ở Pháp, Chính phủ Pháp đã giảm án xuống khổ sai chung thân và đưa ông ra Côn Đảo giam giữ.
         Sau 14 năm trong tù, năm 1945 ông được chính quyền cách mạng đưa tàu ra đón về và giữ chức Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Bộ.
          Tại Đại hội lần thứ hai của Đảng Cộng sản Việt Nam họp năm 1951, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và công tác ở Trung ương Cục miền Nam và Ủy ban Kháng chiến hành chính miền Đông Nam Bộ.
        Năm 1956 ông vào Bộ Chính trị. Ông cũng là Bí thư Trung ương Đảng trong các năm 1958-1960.
        Từ năm 1955 đến năm 1958 ông được cử làm Bộ trưởng Phủ Thủ tướng. Năm 1958, ông được cử làm Phó Thủ tướng và là một trong 4 Phó thủ tướng lúc bấy giờ.
        Sau đó, ông lại trở về Nam giữ chức vụ Bí thư Trung ương Cục miền Nam (1967-1975) và là Chính ủy Các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông làm Chính ủy Bộ chỉ huy chiến dịch.           Sau khi Việt Nam thống nhất năm 1976, ông được giữ chức vụ Phó Thủ tướng, từ năm 1981 đổi thành Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ông cũng kiêm chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) thay cho Trần Quốc Hoàn từ 1981 đến 1987.
        Từ tháng 6 năm 1987, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và giữ chức vụ này cho đến khi mất.
        

Cố thủ tướng Võ Văn Kiệt

    Phan Văn Hòa – (tên khai sinh của ông Võ Văn Kiệt), sinh ngày 23-11-1922 tại xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, Vĩnh Long.
    Năm 1938, khi mới 16 tuổi, Phan Văn Hòa đã tham gia hoạt động cách mạng trong phong trào Thanh niên phản đế.
     Tháng 11-1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, làm Bí thư chi bộ, Huyện ủy viên huyện Vũng Liêm và tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở Vĩnh Long.
     Từ năm 1973 đến khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, ông được phân công giữ nhiều chức vụ quan trọng khác như: Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục miền Nam, Ủy viên trong Đảng ủy đặc biệt của chiến dịch Hồ Chí Minh.
     Ông cũng được bầu vào Quốc hội Việt Nam khóa VI. Từ sau Đại hội IV của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1976), ông được bầu làm Ủy viên Dự khuyết Bộ chính trị và được phân công làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 1982.
      Từ ngày 10 tháng 3 đến ngày 22 tháng 6 năm 1988, ông giữ vị trí Quyền Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng
      Tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá VIII (tháng 8 năm 1991), ông được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (thay ông Đỗ Mười)
     Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá IX (1992-1997), ông được bầu làm Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

         Đại tướng Võ Nguyên Giáp, sinh ngày 25/8/1911, tại làng An Lộc, xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. Ông được Hồ Chủ Tịch tin tưởng, giao cho việc điều binh khiển tướng. Trong quá trình hoạt động, Đại tướng đem hết tâm sức phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, làm rạng rỡ non sông, đất nước Việt Nam. Võ Nguyên Giáp được cả thế giới biết đến như là một trong những vị tướng huyền thoại. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
      Tháng 6 năm 1940 ông gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cuộc gặp đã đã tạo ra bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Võ Nguyên Giáp. Ông trở thành học trò của chủ tịch Hồ Chí Minh, là chỉ huy chính trong các chiến dịch và chiến thắng chính trong Chiến tranh Đông Dương (1946–1954) đánh bại Thực dân Pháp, Chiến tranh Việt Nam(1960–1975) chống Mỹ, thống nhất đất nước và Chiến tranh biên giới Việt-Trung (1979) chống quân Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc.
         Là người được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao trọng trách, với 30 năm trên cương vị Tổng Tư lệnh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã lần lượt đánh thắng 7 đại tướng tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp và 3 đại tướng tổng chỉ huy quân đội xâm lược Mỹ. 

Tổng bí thư Lê Duẩn

   Đồng chí Lê Duẩn sinh ngày 7 tháng 4 năm 1907. 
   Tham gia Hội Thanh niên cách mạng năm 1928 và năm 1930 trở thành một trong những đảng viên lớp đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam.
    Năm 1931, ông là Ủy viên Ban tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ.
       Ngày 20 tháng 4 năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt tại Hải Phòng, bị kết án 20 năm tù, bị giam ở các nhà tù Hỏa Lò, Sơn La và Côn Đảo.
       Năm 1936, ông được trả tự do, tiếp tục hoạt động cách mạng ở Trung Kỳ. Năm 1937, làm Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ.
        Năm 1939, ông được bầu vào Ban thường vụ Trung ương Đảng. Cuối năm 1939, tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ 6.
    Năm 1940, bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn, bị kết án 10 năm tù và bị đày ra Côn Đảo lần thứ 2. Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được đón về đất liền.
    Chiến trường Nam bộ ngày ấy vừa xa xôi vừa phức tạp, để có một sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương, phải cần một người am hiểu cả địa thế lẫn lòng dân. Vì vậy năm 1957, Hồ Chủ tịch đã gọi ông ra Hà Nội gấp và nhanh nhất có thể để trực tiếp giúp điều hành công việc chung của Đảng.
     Cuối năm 1957, ông ra Hà Nội, vào Ban Bí thư Trung ương Đảng, chủ trì công việc của Ban Bí thư và là Phó Ban chuẩn bị văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng.
     Tháng 9/1960, tại Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Tổng Bí thư).
       Kể từ năm 1967, theo một số nhận định ông Duẩn trở thành người có quyền lực cao nhất trong Bộ Chính trị.
       Năm 1969, Hồ Chí Minh qua đời. Lê Duẩn là người đọc điếu văn tang lễ, ông đã nấc nghẹn nhiều lần khi đọc lời truy điệu “…Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa. Tổn thất này vô cùng lớn lao. Đau thương này thật là vô hạn! Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta…”. Đây là lần duy nhất người ta thấy ông khóc trong các bộ phim tài liệu.
    Tại các Đại hội toàn quốc lần thứ IV (12/1976) và lần thứ V (3/1982), ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư đến khi mất. 
     Ông có những đóng góp vô cùng lớn lao đối với Cách mạng nước ta: Trước vấn đề căng thẳng với Trung Quốc, Giải quyết vấn đề Hoa Kiều, Chiến tranh biên giới, Tình hình kinh tế 1975-1985.

Đồng chí Trần Phú

      Đồng chí Trần Phú sinh ngày 01/5/1904, tại thôn An Thổ, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; nguyên quán là xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, một vùng đất “địa linh nhân kiệt”.
     Năm 1925 ông cùng một số bạn bè trẻ tuổi như Lê Văn Huân, Trần Đình Thanh, Ngô Đức Diễn, Tôn Quang Phiệt… thành lập Hội Phục Việt, sau đổi là Hội Hưng Nam, rồi lại đổi ra Việt Nam Cách mạng Đảng.
     Cuối năm 1926, đồng chí được Hội Hưng Nam cử sang Quảng Châu bắt liên lạc với Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Tại đây, đồng chí đã gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và tham gia vào lớp huấn luyện cán bộ do Người trực tiếp giảng dạy. Ông được kết nạp Đảng, và được cử về nước hoạt động. Tháng 12 năm 1926, ông về đến Vinh, tham gia cải tổ Việt Nam Cách mạng Đảng theo đường lối và tổ chức của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội.
      Năm 1927, đồng chí được cử sang thành phố Mátxcơva (Liên Xô) học tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế cộng sản.
     Tháng 7/1930, đồng chí được cử bổ sung vào Ban Chấp uỷ lâm thời của Đảng, đồng thời được giao nhiệm vụ dự thảo Luận cương chính trị, chuẩn bị cho việc tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ nhất.
     Tháng 10 năm 1930, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp ở Hương Cảng (Trung Quốc) đã thông qua bản Luận cương Chính trị và bầu Ban Chấp hành Trung ương chính thức, ông được bầu Tổng Bí thư của Đảng.
      

Đồng chí Trường Chinh

         Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu sinh ngày 09/02/1907 tại làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Thủy, tỉnh Nam Định).  
          Năm 18 đã tham gia vào phong trào yêu nước rồi gia nhập Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Qua tìm hiểu “Đường Kách Mệnh” và các tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc, Mác-Lênin, từ một người yêu nước đồng chí đã trở thành một người cộng sản. 
       Trong 10 năm đầu hoạt động đồng chí đã mang hết nghị lực, trí tuê, nhiệt tình Cách mạng tham gia tuyên truyền tư tưởng, chử trương của Đảng. 
        Tại hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng (1940) ông được cử vào Ban Chấp hành Trung ương. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (1941) được bầu chính thức là Tổng bí thư của Đảng. Trước những khó khăn mà Đảng ta đang gặp phải đồng chí cùng Trung Ương Đảng đã có những quyết định quan trọng đưa Cách mạng tiến lên với những bước nhảy vọt. Mà đỉnh điểm là dự báo việc Nhật – Pháp đánh nhau và chỉ thị Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật – Pháp đánh nhau và hành động của chúng ta”. Cùng với lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc mà chỉ trong thời gian ngắn Cách mạng tháng Tám đã thành công 
        Cống hiến đặc biệt quan trọng của đồng chí đã đi vào tiềm thức của nhân dân ta là Trường Chinh đã đặt nền móng cho công cuộc đổi mới năm 1986. Trong quá trình chuẩn bị Đại hội VI, đồng chí đã nói “Đổi với nước ta, đổi mới là bức thiết, là vấn đề có tầm quan trọng sống còn”.      Trong suốt quá trình hoạt động Cách mạng đồng chí Trường Chinh là học trò xuất sắc và là người bạn chiến đấu gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh luôn soi sáng mọi hoạt động lí luận và thực tiễn của đồng chí Trường Chinh.
      Không những là nhà lãnh đạo Cách mạng kiệt xuất mà còn là nhà lý luận, nhà văn hóa lớn. Ông đã để lại nhiều tác phẩm chính trị có giá trị: “Chống chủ nghĩa cải lương” (1935), “Chính sách mới của Đảng” (1941), “Kháng chiến nhất định thắng lợi” …..
       Ngày 30/09/1988, ông mất, thọ 81 tuổi. 

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh

        Nguyễn Chí Thanh tên khai sinh của anh là Nguyễn Vịnh sinh ngày 1-1-1914 trong một gia đình bần nông ở thôn Niêm Phò, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế.
      Năm 1934, ông tham gia cách mạng trong phong trào Mặt trận Bình dân. Năm 1937, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, lần lượt giữ các chức vụ: Bí thư chi bộ, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. 
     Tại Hội nghị Đảng toàn quốc ở Tân Trào tháng 8/1945, ông được bác đặt tên cho là Nguyễn Chí Thanh. Từ đây cái tên này trở thành một phần lịch sử của quân đội ta, của Cách mạng Việt Nam.
      Nguyễn Chí Thanh là cán bộ lãnh đạo giỏi cả về chính trị lẫn quân sự và có tài năng về lí luận chính trị quân sự. Bở lẽ đó mà năm 1950 Thường vụ Trung ương Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp điều động đồng chí Nguyễn Chí Thanh về Trung ương để phụ trách công tác Tuyên huấn, Thanh vận và Đối ngoại. Ngày 1-7-1950, đồng chí Nguyễn Chí Thanh nhận nhiệm vụ Phó Bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị.
       Năm 1959, ông được phong quân hàm Đại tướng
      Đảng (1960), đại tướng Nguyễn Chí Thanh lại  được bầu vào BCH Trung Ương, được cử vào Bộ chính trị và Ban bí thư.Năm 1961, đồng chí được giao nhiệm vụ phụ trách Ban nông nghiệp của Đảng.Trong chống Mỹ cứu nước, BCH TW Đảng lại điều đồng chí trở lại quân đội.Đại tướng Nguyễn Chí Thanh còn là Uỷ viên Hội đồng quốc phòng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
        Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 1967 tại Hà Nội do một cơn nhồi máu cơ tim khi ra Hà Nội để báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hình miền Nam.

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng

     Sinh ngày 1-3-1906, tại làng quê xã Đức Tân, Mộ Đức, Quảng Ngãi
     Trong những năm 1925-1926, ông đã tham gia phong trào bãi khóa, đấu tranh đòi thực dân Pháp ân xá cụ Phan Bội Châu và để tang cụ Phan Chu Trinh.
     Năm 1926, đồng chí tham dự lớp đào tạo cán bộ ở Quảng Châu (Trung Quốc) do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tổ chức, giảng dạy và được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
     Ngày 29-7-1929, đồng chí bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù và đày đi Côn Đảo. Sau khi được trả tự do vào năm 1936, Phạm Văn Đồng ra Hà Nội hoạt động công khai trên mặt trận báo chí cách mạng của Đảng.
     Năm 1936, ông ra tù, hoạt động ở Hà Nội. Năm 1940, ông bí mật sang Trung Quốc cùng với Võ Nguyên Giáp, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và được Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ về nước xây dựng căn cứ địa ở biên giới Việt – Trung.
        Năm 1945, tại Đại hội Quốc dân Tân trào, ông được bầu vào Ủy ban Thường trực gồm 5 người thuộc Ủy ban Dân tộc giải phóng, chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám.
       Trong những năm hoạt động cách mạng, đặc biệt là từ sau năm 1945 đến năm 1987, đồng chí được phân công giữ nhiều cương vị lãnh đạo cao cấp, nhiều trọng trách trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, như: Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng…. 
      Là một trong những cán bộ tiền bối, được Bác Hồ trực tiếp giáo dục và rèn luyện, đồng chí Phạm Văn Đồng đã trở thành người học trò xuất sắc, một cộng sự gần gũi và thân thiết của Bác. Đồng chí đã thể hiện những phẩm chất cao quý của một người cộng sản trung kiên, mẫu mực.
        Khi cùng ở với Bác Hồ và cả sau khi Bác mất, ông luôn giữ nếp sống rất đơn giản, trong cuộc sống, Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng coi nhau như anh em, Bác gọi ông là chú Tô. Giản dị, thanh bạch là những điều đồng chí học được ở Bác Hồ nhiều nhất.

G.S Trần Đại Nghĩa

         GS. VS. Trần Đại Nghĩa (tên thật là Phạm Quang Lễ) sinh ngày 13/9/1913 trong một gia đình nhà nho nghèo tại xã Hòa Hiệp, huyện Tam Bình – Vĩnh Long. 
        Năm 1933, người thanh niên thông minh giàu nghị lực Phạm Quang Lễ đã thi đỗ đầu hai bằng Tú tài (Tú tài ta và Tú tài tây). Nhưng vì hoàn cành nghèo khó nên ông ở lại TP.Mỹ Tho xin làm thư ký để giúp được mẹ và chị. Trong khoảng thời gian ấy ông vẫn chăm chỉ tự học thêm Luật học.
       Hai năm sau (1935), được nhà báo Vương Quang Ngươu – người giúp ông nhận được học bổng Trường Chasseloup-Laubat trong một năm, tháng 9/1935 ông lên tàu thủy đi Pháp du học. Nhờ sự cần cù mà ông đã nhận được tới 3 bằng đại học một lúc.
        Từ năm 1963, người thanh niên này đã biết tới tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc, kể từ đó tư tưởng yêu nước của Nguyễn Ái Quốc đã định hướng về mặt chính trị cho người thanh niên Phạm Quang Lễ.
        Ông đã làm việc ở cả Pháp và Đức nhưng đến ngày 8/9/1946, Bác Hồ gọi Phạm Quang Lễ đến, cho biết là Hội nghị Phôngtenơblô đã không thành, rồi Bác đề nghị: “Bác về nước, chú về với Bác…” Ông đã cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước.
          Ngày 5/12/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mời kỹ sư Phạm Quang Lễ đến Bắc Bộ Phủ. Tại đây Người đã trực tiếp giao cho ông làm Cục trưởng Cục quân giới và đặt tên mới cho ông là Trần Đại Nghĩa.
        Từ những năm 1950 cho đến cuối đời, nhà khoa học Trần Đại Nghĩa được Đảng và Nhà nước tin tưởng và giao nhiều trọng trách quan trọng: Cục trưởng Cục quân giới, Cục trưởng Cục pháo binh, Phó chủ nhiệm Tổng cục hậu cần rồi Phó chủ nhiệm Tổng cục kỹ thuật (Bộ quốc phòng)……
       Năm 1996, ông vinh dự được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về công trình nghiên cứu chế tạo Bazoka, súng không giật..
       Ông mất vào 16 giờ 20 phút ngày 9 tháng 8 năm 1997, hưởng thọ 84 tuổi. Hiện nay có những con đường trường học hay con tàu mang tên ông. Đặc biệt ngày 24 tháng 11 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long tổ chức khởi công xây dựng Khu lưu niệm Giáo sư – Viện sĩ Trần Đại Nghĩa.

Bài Viết Bạn Nên Xem

Trả lời

Back to top button