Danh Sách Dịch Vụ

Top 8 Bài văn phân tích hào khí Đông A trong bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão (Ngữ văn 10) hay nhất

Bạn có biết được rằng, trong mỗi trang văn đều được phủ bóng bởi thời đại mà nó ra đời. Trong văn học và hiện thực cuộc sống luôn có mối quan hệ gắn bó bền chặt. Có thể cảm nhận thấy được đối với bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão được phỏng đoán ra đời năm 1284. Đó cũng là khi cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên lần thứ hai sắp bắt đầu. Thông qua đây ta cũng thấy được nhưng dư vị âm vang hào khí Đông A toát ra từng câu chữ với bài thơ Thuật hoài của tác giả Phạm Ngũ Lão. Dưới đây là những bài văn phân tích hào khí Đông A trong bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão (Ngữ văn 10) hay nhất mà Danhsachtop đã sưu tầm và tổng hợp.

Bài tham khảo số 7

Phạm Ngũ Lão là một người tài giỏi, có lòng yêu nước nồng nàn, bản lĩnh phi thường, ông là một tướng tài đồng thời cũng là người có tâm hồn văn chương. Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là bài thơ Tỏ lòng. Văn bản thể hiện những tâm tư, nỗi niềm của vị tướng tài, đồng thời tái hiện chân thực hào khí Đông A sôi sục, hào hùng của thời đại.

Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

Hai câu thơ đầu đã vẽ nên hình ảnh người tráng sĩ đời Trần với tư thế hiên ngang, dũng mãnh “cầm ngang ngọn giáo”, cho thấy tư thế hiện ngang, chủ động khác với câu thơ dịch là “múa giáo” mang tính chất phô trương, biểu diễn, không thể hiện được tư thế anh hùng, hiên ngang của người tướng sĩ. Đồng thời không gian nhân vật trữ tình đứng cũng vô cùng bao la, rộng lớn: giang sơn. Tưởng rằng đứng trong không gian ấy con người sẽ trở nên bé nhỏ, chìm khuất trong không gian vũ trụ bao la, nhưng ngược lại, con người hiện lên trong tư thế làm chủ, mang tầm vóc lớn lao ôm trọn cả non sông đất nước. Tư thế ấy còn cho thấy tinh thần sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng xả thân để bảo vệ biên cương, lãnh thổ toàn vẹn. Không chỉ vậy, thời gian được nhắc đến ở đây đã trải mấy thu, đó là khoảng thời gian dài, điều ấy còn khẳng định ý chí, quyết tâm bền bỉ của nhân vật trữ tình. Câu thơ thứ nhất vừa cho ta thấy tầm vóc hiên ngang, vừa cho thấy lòng yêu nước nồng nàn của nhân vật trữ tình.

Câu thơ thứ hai tái hiện lại sức mạnh của quân đội nhà Trần. Tác giả sử dụng các hình ảnh “tam quân” “tì hổ” “khí thôn ngưu” để làm rõ vẻ đẹp sức mạnh đó. Tam quân để nói về quân đội nhà Trần bao gồm tiền quân, trung quân và hậu quân. Còn tì hổ để nói về sức mạnh to lớn như hổ báo của quân đội, biện pháp so sánh đã một lần nữa khẳng định sự dũng mạnh, nhanh nhẹn của quân đội nhà Trần. “Khí thôn ngưu” có thể hiểu theo hai cách, cách thứ nhất tức là khí thế nuốt trôi trâu, nhưng cũng có thể hiểu khí thế át sao Ngưu. Dù hiểu theo cách nào cũng đều thấy được khí thế, sức mạnh vô song của quân đội nhà Trần. Với hai câu thơ đầu, tác giả đã tái hiện sinh động, chân thực vẻ đẹp của con người thời đại nhà Trần với sức mạnh vô song. Qua đó ta còn cảm nhận được hào khí oanh liệt của thời đại mà dân tộc bừng bừng khí thế, quyết tâm đánh giặc cứu nước.

Hai câu thơ cuối giọng điệu không còn hào sảng mà chuyển sang suy tư, đầy tâm trạng:

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.

Trong câu thơ tác giả đã tác đến chí làm trai, một thuật ngữ quen thuộc trong văn học trung đại. Ta có thể bắt gặp trong những câu thơ của Phan Bội Châu: “Làm trai phải lạ ở trên đời” hay Nguyễn Công Trứ: “Đã mang tiếng làm trai trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông” “Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái”. Theo quan niệm xưa, nam nhi được trời đất trao cho tài năng và nhân cách đặc biệt nên việc đem tài năng để thi thố, để lập công, lập danh là món nợ mà nam nhi phải trả. Trong câu thơ của Phạm Ngũ Lão, bản thân ông đã ý thức được vai trò, trọng trách và nghĩa vụ của mình khi tự nhận là một “nam nhi”. Ông phải lập công danh để trả nợ cho đời, để trả món nợ nam nhi. Mặc dù là người tài giỏi, có nhiều đóng góp cho đất nước, nhưng trong câu thơ ta vẫn thấy ông hết sức khiêm nhường “vị liễu công danh trái”, ông tự nhận mình chưa làm được việc gì cho thật xứng đáng là một bậc nam nhi. Qua lời tâm sự đó ta thấy sáng lên vẻ đẹp nhân cách của nhân vật trữ tình: sự khiêm tốn đồng thời cũng là sự nghiêm khắc của nhân vật trữ tình với chính mình. Ngoài ra câu thơ còn thể hiện hoài bão, khát vọng lớn lao của con người, tự nhận thấy mình phải cố gắng, nỗ lực hơn nữa để cống hiến cho đất nước. Bởi vậy, ông cảm thấy xấu hổ trước Vũ Hầu (Gia Cát Lượng) vì chưa tài giỏi bằng, vì công danh sự nghiệp chưa bằng. Nỗi hổ thẹn khi nghĩ đến Vũ Hầu cho thấy nhân vật trữ tình nhận thấy đó là nỗi thẹn của một con người có nhân cách, có khát vọng và lí tưởng cao đẹp.

Tác phẩm sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, hàm súc, cô đọng “ý tại ngôn ngoại”. Các hình ảnh so sánh được chọn lọc kĩ càng, giàu sức gợi, giàu giá trị biểu hiện tư tưởng tình cảm. Bài thơ mang trong mình không khí hào hùng của thời đại và thể hiện niềm tự hào về con người, thời đại nhà Trần.

Bài thơ là những dòng tâm sự, bày tỏ lí tưởng, hoài bão lớn lao, cao cả của một vị tướng nhà Trần tài giỏi mà khiêm nhường. Qua bài thơ, đã giúp ta nhận thấy vẻ đẹp phẩm chất của vị tướng tài Phạm Ngũ Lão và sức mạnh oai hùng, phi thường của quân tướng nhà Trần.

Bài tham khảo số 3

Phạm Ngũ Lão là một danh tướng đời Trần. Tuy xuất thân từ tầng lớp bình dân song chí lớn tài cao nên ông nhanh chóng trở thành tùy tướng số một bên cạnh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên xâm lược, Phạm Ngũ Lão cùng những tên tuổi lớn khác của triều đình đã lập nên nhiều chiến công hiển hách, góp phần quan trọng tạo nên hào khí Đông A của thời đại đó.

Ông sáng tác không nhiều nhưng Thuật hoài là một bài thơ nổi tiếng, được lưu truyền rộng rãi vì nó bày tỏ khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ trong xã hội phong kiến đương thời: làm trai phải trả cho xong món nợ công danh, có nghĩa là phải thực hiện đến cùng lí tưởng trung quân, ái quốc.

Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu

Dịch thơ tiếng Việt:

Múa giáo non sông trải mấy thu

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu

Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.

Bài thơ được sáng tác trong bối cảnh đặc biệt có một không hai của lịch sử nước nhà. Triều đại nhà Trần (1226 – 14001) là một triều đại lẫy lừng với bao nhiêu chiến công vinh quang, mấy lần quét sạch quân xâm lược Mông – Nguyên hung tàn ra khỏi bờ cõi, giữ vững sơn hà xã tắc, nêu cao truyền thống bất khuất của dân tộc Việt.

Phạm Ngũ Lão sinh ra và lớn lên trong thời đại ấy nên ông sớm thấm nhuần lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc và nhất là lí tưởng sống của đạo Nho là trung quân, ái quốc. Ông ý thức rất rõ ràng về trách nhiệm công dân trước vận mệnh của đất nước: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách.

Bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng) được làm bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt luật Đường, niêm luật chặt chẽ, ý tứ hàm súc, hình tượng kì vĩ, âm điệu hào hùng, sảng khoái. Hai câu thơ đầu khắc họa vẻ đẹp gân guốc, lẫm liệt, tràn đầy sức sống của những trang nam nhi – chiến binh quả cảm đang xả thân vì nước, qua đó thể hiện hào khí Đông A ngút trời của quân đội nhà Trần thời ấy.

Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu

(Dịch nghĩa: Cầm ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu;

dịch thơ: Múa giáo non sông trải mấy thu.)

So với nguyên văn chữ Hán thì câu thơ dịch chưa lột tả được hết chất oai phong, kiêu hùng trong tư thế của người lính đang chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Hoành sóc là cầm ngang ngọn giáo, luôn ở tư thế tấn công dũng mãnh, áp đảo quân thù. Tư thế của những người chính nghĩa lồng lộng in hình trong không gian rộng lớn là giang sơn đất nước trong suốt, một thời gian dài (giang sơn kháp kỉ thu). Có thể nói đây là hình tượng chủ đạo, tượng trưng cho dân tộc Việt quật cường, không một kẻ thù nào khuất phục được. Từ hình tượng ấy, ánh hào quang của chủ nghĩa yêu nước ngời tỏa sáng.

Câu thơ thứ hai: Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.

(Dịch nghĩa: Khí thế của ba quân mạnh như hổ báo, át cả sao Ngưu trên trời. Dịch thơ: Ba quân hùng khí át sao Ngưu), đặc tả khí thế chiến đấu và chiến thắng không gì ngăn cản nổi của quân dân ta. Tam quân tì hổ là một ẩn dụ so sánh nghệ thuật nêu bật sức mạnh vô địch của quân ta. Khí thôn Ngưu là cách nói thậm xưng để tạo nên một hình tượng thơ kì vĩ mang tầm vũ trụ.

Hai câu tứ tuyệt chỉ mười bốn chữ ngắn gọn, cô đúc nhưng đã tạc vào thời gian một bức tượng đài tuyệt đẹp về người lính quả cảm trong đạo quân Sát Thát nổi tiếng đời Trần.

Là một thành viên của đạo quân anh hùng ấy, Phạm Ngũ Lão từ một chiến binh dày dạn đã trở thành một danh tướng khi tuổi còn rất trẻ. Trong con người ông luôn sôi sục khát vọng công danh của đấng nam nhi thời loạn. Mặt tích cực của khát vọng công danh ấy chính là ý muốn được chiến đấu, cống hiến đời mình cho vua, cho nước. Như bao kẻ sĩ cùng thời, Phạm Ngũ Lão tôn thờ lí tưởng trung quân, ái quốc và quan niệm: Làm trai đứng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông (Chí làm trai – Nguyễn Công Trứ). Bởi thế cho nên khi chưa trả hết nợ công danh thì tự lấy làm hổ thẹn.

“Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu

(Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu).

Vũ Hầu tức Khổng Minh, một quân sư tài ba của Lưu Bị thời Tam Quốc. Nhờ mưu trí cao, Khổng Minh đã lập được công lớn, nhiều phen làm cho đôi phương khốn đốn; vì thế ông rất được Lưu Bị tin yêu.

Lấy gương sáng trong lịch sử cổ kim soi mình vào đó mà so sánh, phấn đấu vươn lên cho bằng người, đó là lòng tự ái, lòng tự trọng đáng quý cần phải có ở một đấng nam nhi. Là một tùy tướng thân cận của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão luôn sát cánh bên cạnh chủ tướng, chấp nhận xông pha nơi làn tên mũi đạn, làm gương cho ba quân tướng sĩ, dồn hết tài năng, tâm huyết để tìm ra cách đánh thần kì nhất nhằm quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi. Suy nghĩ của Phạm Ngũ Lão rất cụ thể và thiết thực; một ngày còn bóng quân thù là nợ công danh của tuổi trẻ với giang sơn xã tắc vẫn còn vương, chưa trả hết. Mà như vậy là phận sự với vua, với nước chưa tròn, khát vọng công danh chưa thỏa. Cách nghĩ, cách sống của Phạm Ngũ Lão rất tích cực, tiến bộ. Ông muốn sống xứng đáng với thời đại anh hùng.

Hai câu thơ sau âm hưởng khác hẳn hai câu thơ trước. Cảm xúc hào sảng ban đầu dần chuyển sang trữ tình, sâu lắng, như lời mình nói với mình cho nên âm hưởng trở nên thâm trầm, da diết.

Phạm Ngũ Lão là một võ tướng tài ba nhưng lại có một trái tim nhạy cảm của một thi nhân. Thuật hoài là bài thơ trữ tình bày tỏ được hùng tâm tráng trí và hoài bão lớn lao của tuổi trẻ đương thời. Bài thơ có tác dụng giáo dục rất sâu sắc về nhân sinh quan và lối sống tích cực đối với thanh niên mọi thời đại. Thuật hoài đã làm vinh danh vị tướng trẻ văn võ song toàn Phạm Ngũ Lão.

Bài tham khảo số 4

Đất Việt ta bốn nghìn năm dựng nước luôn đi kèm với quá trình giữ nước. Song hành với lịch sử dân tộc là những mốc son chói lọi. Về chiến tích giữ nước của ông cha ta. Mỗi khi có ngoại xâm, cả dân tộc vùng lên với những tinh thần quyết chiến quyết thắng, ngoan cường mãnh liệt. Hào khí dân tộc đã thổi hồn mình vào những trang sử vẻ vang ấy để làm nên bao kì tích vĩ đại. Giặc Mông – Nguyên hoành hành cả nửa vòng trái đất nhưng phải cam chịu thất bại ê chề trước dân tộc ta. Nổi bật trong chiến tích lẫy lừng, hai lần đại chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên là luồng sinh khí của hào khí Đông A. Vì luồng sinh khí hào hùng ấy được thể hiện rõ nét qua tác phẩm “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão.

Nhắc đến triều đại Lý – Trần là nhắc về những chiến tích vẻ vang hào hùng, soi rọi lịch sử đến muôn đời. Ông cha ta hai lần đại phá quân Tống xâm lược, ba lần dập tắt âm mưu xâm lược của đại đế Mông Kha. Nổi bật hào khí dân tộc thời kì này là hoài khí Đông A. Xét theo phép chiết tự của tiếng Hán thì khi ghép chữ “Đông” và bộ phụ của chữ “A” sẽ thành chữ “Trần”. Vậy hào khí Đông A ấy đã nói lên một triều đại lẫy lừng. Là hào khí “sát thát” – Hào khí thời Trần. Đó là một niềm tự hào dân tộc sâu sắc về thời đại. Trong bối cảnh đất nước có chiến tranh, bè lũ quân cướp nước bạo tàn tràn sang lãnh thổ ta, dày xéo non sông ta, tàn hại bá tánh ta thì những con người yêu nước phải đứng lên gánh vác trọng trách lịch sử – trọng trách với giang sơn đất nước. Một luồng sinh khí mới trong họ trỗi dậy: lòng căm thù giặc sâu sắc, quyết đem tài trí ra dẹp bạo trừ tàn, nung nấu lý tưởng anh hùng nhân cách cao cả vì giang sơn. Và còn là một lòng tự hào dân tộc hết sức sâu sắc, mãnh liệt. Tất cả những cung bậc cảm xúc ấy, từ lòng căm ghét đến lòng tự hào đều đã góp phần làm nên ngọn lửa xung thiên – Đông A đại hào khí. Trước lịch sử non nước có nhiều biến động thế, vận mệnh quốc gia dân tộc đặt lên hàng đầu. Người trang tráng họ Phạm đã giải bày nỗi lòng mình qua bốn câu thơ Đường luật cô đọng, súc tích mà bao la chan chứa trong bài thơ “Thuật hoài”.

Hào khí dân tộc ta có thể thấy được đó là hào khí mạnh mẽ dữ dội về sức mạnh thể chất của người trai tráng và quân đội đương thời:

“Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

Sừng sững trong bức kì họa ấy là hình ảnh người tráng sĩ vệ quốc hiên ngang lẫm liệt. Người tráng sĩ ấy hiện lên với một không gian, thời gian vô cùng đặc biệt. Không gian vô cùng “giang sơn”, cả một giang sơn gấm vóc bao la, rộng lớn, kì vĩ hiện lên. Dường như thu vào bức họa là một khoảng không bất tận, là giữa sông núi hiên ngang vững chãi đời đời. Còn thời gian lại có sự hào hợp với không gian. Đó là thời gian vô tận “kháp kỷ thu” – trải hết mùa thu này sang mùa thu khác, dường như chỉ cảm nhận được độ dài miên man, vô thủy vô chung của thời gian chứ chẳng thể định được là bao lâu. Giữa không gian rộng lớn, thời gian bao la như thế, thì con người hiện hữu sẽ thường trở nên nhỏ bé, rợn ngợp theo đặc trưng của văn học trung đại. Như cánh chim nhỏ bé bị không gian đè nén, vùi dập trong “Chinh phụ ngâm”:

“Khói mù nghi ngút ngàn khơi

Con chim bạt gió lạc loài kêu sương”

Nhưng ở đây hình ảnh con người lại hiện lên hết sức tráng lệ. Giữa nền bối cảnh không gian và thời gian ấy, ta lại ấn tượng với trung tâm là hình ảnh người tráng sĩ: “hoành sóc”. Với một tư thế cầm ngang ngọn giáo, hiên ngang, oai phong lẫm liệt. Dường như con người trần thế ấy đã được lí tưởng hóa, vĩnh viễn hóa và trung tâm hóa, để rồi hiện lên một vẻ đẹp vững chãi, kiên cường lấn không gian, vượt thời gian để thành sức mạnh vĩnh cửu. Bức tranh đã dựng nên được vẻ đẹp của sức mạnh thể chất hùng võ, anh dũng uy nghi của bậc trai tráng anh hùng. Người nam tử mang tầm vóc kì vĩ, dũng mãnh nên quân đội cũng hiện lên với một sức mạnh như cuồng phong vũ bão, đó chính là cái hùng khí: “Tam quân tì hổi khí thôn ngưu” Quân đội nhà Trần vững chắc, ba quân mạnh mẽ, sức vóc cuồng cuộn như hổ báo, nuốt cả loài trâu. Âm hưởng rắn rỏi hùng dũng vang lên đầy khí thế. Hai câu thơ đầu đã cho ta cảm nhận được phần nào vẻ đẹp thể chất hùng hổ, hiên ngang của người trai tráng cũng như quân đội nhà Trần. Dường như người anh hùng ấy, quân đội ấy đang hiện hữu trước mắt ta. Sinh khí cả một thời đại chợt ùa về, ta như đang sống giữa lòng hào khí mất tử ấy, đang hòa vào bầu không khí nóng bỏng của thời đại, góp thêm lửa tự hào cùng tác giả. Hai câu thơ vang lên cũng làm vang động thanh âm Đông A, làm nên giá trị bất diệt của lịch sử.

Nếu hai câu trên cho ta cảm nhận một cách tinh tế vẻ đẹp sức mạnh thể chất của con người thời Trần thì hai câu sau tác giả cho ta một cách nhìn sâu sắc về vẻ đẹp lý tưởng cao cả và tình cảm chan hòa, lắng đọng trong tim con người:

“Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”

Đã là nam tử hán đại trượng phu đứng trong trời đất phải lẫy lừng cùng sông núi, cống hiến hết mình cho giang sơn. Đó cũng là quan điểm tích cực của Nho gia. Như cái chí làm trai của Nguyễn Công Trứ:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”

Hay cái tử tưởng của cửa Khổng sân Trình của cụ đồ Chiểu: “Trai thời trung hiếu làm đầu”. Cuộc đời tác giả xem công danh là một món nợ. Món nợ rất nặng cũng như Nguyễn Công Trứ đã từng nói: “Đạo vi tử vi thần đâu có nhẹ” Vậy nên suốt đời tác giả cống hiến không ngừng, khi đất nước có xâm lăng, ông đóng góp rất tích cực vào công cuộc định thiên hạ, khi thái hòa về ông cũng tham gia vào dựng xây đất nước, mang thái bình thịnh trị cho lê dân. Công đức cao vời của người khi mất, Vua phải cho nghỉ chầu năm ngày để tỏ lòng thương tiếc. Cuộc đời cốn hiến vậy mà tác giả vẫn thấy chưa là gì, người đã thẹn khi nghe người đời kể chuyện Vũ Hầu (Gia Cát tiên sinh) – một tấm gương thiên trung sáng mãi muôn đời, là chuẩn mực chí hướng hướng của biết bao trai tráng trong trời đất. Tuy nhiên cái thẹn đó của tác giả không làm người trở nên nhỏ bé, thấp hèn mà ngược lại còn tôn vinh nên vẻ đẹp một nhân cách cao cả. Không tự mãn với những gì mình đại được, cảm thấy cống hiến mình là quá ít so với cố nhân, không hết được phận sự làm trai. Vì thế hai câu thơ thâm trầm mà sâu sắc vô cùng, hiện lên một lý tưởng sống hết sức cao cả và một trái tim cao đẹp, vĩ đại. Hai câu thơ là lời tự bạch của tác giả, bao nỗi niềm ưu tư của người dồn nén vào hai câu thơ cuối bài này. Dòng tâm sự ấy tưởng chùng là âm hưởng nhẹ nhàng nhưng thực chất đó là những đợt sóng lòng đêm ngày cuồn cuộn của tác giả và nó đã hòa vào lòng những cơn sóng thời đại, góp phần tô điểm thêm một vẻ đẹp hào nhoáng của hào khí dân tộc.

Bốn câu thơ đã đạt đến trình độ súc tích cao nhưng ý nghĩa lại bao la cao cả vô cùng. Luồng hào khí dân tộc xuyên suốt, quán xuyến và bao trùm lên bốn câu thơ. Đó là lòng tự hào dân tộc, tự hào về sức mạnh con người cả về thể chất lẫn tinh thần, trí tuệ. Hào khí oai thiên ấy được thổi vào từ một tấm lòng yêu nước thầm kín mà sâu sắc. Hào khí ấy không chỉ hào rạng ở triều đại Lý Trần mà còn vang vọng mãi trong lịch sử nước nhà, là âm vang bất diệt của dân tộc. Nghe lời thơ tác giả ta càng hiểu và tự hào hơn về một thời đã qua. Hào khí thời Trần đã đi qua nhưng nó vang vọng mãi trong lịch sử nước ta. Chúng ta những thế hệ tiếp bước theo sau cũng phải biết gìn giữ lịch sử vẻ vang của dân tộc, biết tự hào về những mốc son chói lọi ấy. Và đặc biệt, biết phấn đấu bồi dưỡng về thể chất, trí tuệ lẫn đạo đức, tâm hồn để trở thành người tài hữu ích, cống hiến, dựng xây cho quê hương đất nước. Thế mới xứng đáng với những truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc, xứng đáng với người kế thừa hào khí Đông A. Hình ảnh Phạm Ngũ Lão là hình ảnh bậc trai tráng lí tưởng cho chúng ta học tập và noi theo.

Bốn câu thơ tỏ lòng của tác giả như ngọn lửa thiêng rực cháy lên ngọn lửa hồng bập bùng hào khí thời đại. Tấm lòng tác giả cũng như bao tấm lòng trai tráng sĩ phu yêu nước đương thời. Sự hòa hợp giữa cá nhân và tập thể ấy đã làm nên sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc. Dòng hào khí ấy như cơn lốc dữ dội sẵn sàng cuốn phăng bè lũ cướp nước làm trong sạch non nước, đem thái bình cho thiên hạ. Đó cũng là nỗi khao khát của người chí sĩ họ Phạm – một trái tim sâu sắc, cao cả – một anh hùng dân tộc thời đại.

Bài tham khảo số 8

Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng đời Trần, trăm trận trăm thắng, văn võ toàn tài. Ông đã có công giúp cho hưng đạo đại vương biết bao nhiêu trận thắng cùng những chiến công lẫy lừng bảo vệ tổ quốc bình yên độc lập, dẹp yên lũ cướp nước. Có thể nói ông giống như một cánh tay đắc lực cho Hưng Đạo Đại vương vậy. tuy nhiên chúng ta không chỉ biết đến ông với tư cách là một vị danh tướng mà còn biết đến ông với tư cách là một nhà thơ. Nhắc đến ông là ta nhớ ngay đến bài thơ thuật hoài – một bài thơ thể hiện rõ nỗi lòng của ông cũng như chủ nghĩa anh hùng yêu nước, khí thế của quân dân nhà Trần.

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, một bài thơ chỉ có bốn câu thơ thì tác giả đã làm thế nào để thể hiện hết quan điểm, tình yêu đất nước, trung quân được. thế nhưng Phạm Ngũ Lão đã rất tài năng khi chỉ qua bốn câu thơ ấy mà truyền đạt tới moi người những quan điểm tư tưởng của một con người của trời đất của vũ trụ, của một đấng nam nhi đầu đội trời chân đạp đất. đồng thời tác giả còn thể hiện chủ nghĩa anh hùng yêu nước của bản thân qua những quan niệm của đại đa số những danh tướng yêu nước trung thành hồi bấy giờ.

Hai câu thơ đầu tác giả tập trung thể hiện vẻ đẹp hiên ngang trong tranh đấu cũng như vẻ đẹp đoàn kết tinh thần vượt mọi khó khăn gian khổ của những binh lính nhà Trần:

“Hoành sóc giang san kháp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

(Múa giáo non sông trải mấy thu

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)

Hình ảnh con người nhà Trần hiện lên hiên ngang với ngọn giáo trong tay họ có thể đi bất cứ nơi nào có giặc, hành hiệp trượng nghĩa cứu giúp người nghèo kẻ yếu cũng như đánh đuổi quân xâm lược Mông Nguyên. Xét về vẻ đẹp hiên ngang ấy trong bản dịch chữ “hoành sóc” thành “múa giáo” không lột tả hết được sự hiên ngang ấy. Múa giáo thể hiện sự yếu ớt đồng nghĩa với việc không lột tả được sự hùng mạnh anh dũng của quân đội, con người nhà Trần. Hai chữ “hoành sóc” như khắc tạc lên những con người anh dũng lẫm liệt với ngọn giáo ngang trong tay đi khắp giang sơn để bảo vệ đất nước, tưởng chừng quân giặc cả thế giới phải công nhận là mạnh kia chỉ là một ngọn gió nhẹ trước khí thế ngút ngàn của họ.

Chúng mạnh về số lượng cũng như chất lượng, đầy đủ về vật chất nhưng chúng lại thiếu đi sự đánh giá và ý chí vượt qua gian khổ nên chúng phải chuốc lấy thất bại vì đã đánh giá thấp con người nhà Trần. những con người ấy tuy có nhỏ bé về mặt thể chất hay không đông đảo như số lượng quân của nhà Mông nhưng ý chí của họ thì vượt qua hữu hạn về mặt thế chất và số lượng ấy. Và cứ thế với ngọn giáo ngang trong tay họ đã trải qua biết bao nhiêu mùa thu như thế để bảo vệ đất nước tổ quốc này. Họ góp phần tạo nên một đất nước tươi đẹp như xã hội ngày nay. Hình ảnh ngọn giáo trở nên thật đẹp khi được hiện lên trong cái rộng lớn của không gian và chiều dài của thời gian lịch sử. Hình ảnh ấy cũng như thể hiện được vẻ đẹp của chính tác giả trong những trận chiến nảy lửa, căng go vẫn ngang ngọn giáo để bảo vệ đất nước. không chỉ đẹp về mặt ngoại hình con người nhà Trần còn hiện lên với vẻ đẹp của khí chất cao ngất, mạnh mẽ lấn át hết cả sao Ngưu trên trời. Sức mạnh của quân đội Sát Thát giống như hổ như báo có thể nuốt trôi cả mọt con trâu mộng. Hay cũng chính là vẻ đẹp đoàn kết ba quân một lòng khơi dậy trong nhau một tinh thần thép để có thể vượt qua những khó khăn trông gai của cuộc chiến và đi đến một cái kết đẹp và có hậu cho cuộc chiên tranh chính nghĩa bảo vệ tổ quốc.

Tiếp đến hai câu thơ cuối tác giả thể hiện quan niệm về chí làm trai của mình trong thời buổi ấy:

“Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”

(Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe thuyết vũ hầu)

Đã sống ở trên trời đất thì phải có công danh với núi sông, đó cũng là một tuyên ngôn khẳng định chí làm trai của Nguyễn Công Trứ, theo đó ta thấy quan niệm này không chỉ của riêng Phạm Ngũ Lão mà còn có cả tất cả những bậc nam nhi có chí thời bấy giờ. Đó là xu hướng chung, quan niệm chung của họ và cũng chính vì thế mà Phạm Ngũ Lão cũng không nằm ngoài quan niệm đó. Tuy nhiên ở đây tác giả nhấn mạnh thêm quan niệm ấy và mở nó ra với ý nghĩa của cá nhân tác giả mà thôi. Dù là một vị tướng trung thành giống như cánh tay phải của Trần Hưng Đạo, trải qua biết bao nhiêu trận đánh vào sinh ra tử nhưng đối với ông đó vẫn chưa được liệt kê vào những công danh của đất nước. Đối với Phạm Ngũ Lão thì công danh vẫn là một thứ mà còn vương nợ với ông. Và chính vì vương nợ nên ông thấy hổ thẹn khi nghe chuyện về Vũ Hầu.

So sánh mình với Vũ Hầu để thấy những cái chưa được của mình, đây không phải là sự ngộ nhận thân phận của mình giống như Vũ Hầu mà đó là cả một tinh thần học hỏi của nhà thơ đối với người tài giỏi. Có một điểm chung là cả ông và Vũ Hầu đều giúp sức cho một người lớn hơn nhưng tác giả muốn nói ở đây là khi Vũ Hầu giúp được cho vị tướng của mình thì Phạm Ngũ Lão lại khiêm tốn nhận mình chưa giúp được gì cho Hưng đạo đại vương nên thấy hổ thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu. đồng thời qua đó ta thấy được sự trung thành và cống hiến hết sức mình của tác giả với Hưng Đạo đại vương. Tuy xuất thân từ một người nông dân nhưng Phạm Ngũ Lão đã thể hiện được sức mạnh ý chí và trí tuệ của mình khiến cho người ta không thể vịn vào hoàn cảnh xuất thân ấy để mà chê trách được ông.

Qua đây ta thêm yêu hơn những con người nhà Trần nói chung và Phạm Ngũ Lão nói riêng. Ông không những là một vị danh tướng với vẻ đẹp hiên ngang trừ gian diệt bạo, bảo vệ đất nước hòa bình yên ổn mà còn là một nhà thơ giỏi nữa. đối với ông mà nói những gì ông làm được vẫn chưa thỏa cái công danh đối với đất nước. Những chiến công mà ông đạt được vẫn chưa thấm vào đâu so với Vũ Hầu, nên khi nghe chuyện ông không khỏi thẹn thùng. Như vậy ta thấy được vẻ đẹp của một vị danh tướng không kể công những gì mình làm được mà còn khiêm tốn nhận còn “vương nợ”. Và ở đâu đó trong những câu thơ của bài ta thấy rõ một tinh thần yêu nước anh hùng của Phạm Ngũ Lão.

Bài tham khảo số 6

Triều đại nhà Trần (1126-1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông, nhà Trần đã ghi vào lịch sử vàng Đại Việt những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng… bất tử.

Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần được các sử gia ca ngợi là “Hào khí Đông A”. Thơ văn đời Trần là tiếng nói của những anh hùng – thi sĩ dào dạt cảm hứng yêu nước mãnh liệt. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Toản, “Thuật hoài” (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu,… là những kiệt tác chứa chan tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc.

Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng đời Trần, trăm trận trăm thắng, văn võ toàn tài. Tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán: “Thuật hoài” và “Vãn Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại vương”.

Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng. Nó là bức chân dung tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão.

Hoành sóc giang san kháp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.

Cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) là một tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang dũng mãnh. Câu thơ “Hoành sóc giang san kháp kỉ thu” là một câu thơ có hình tượng kỳ vỹ, tráng lệ, vừa mang tầm vóc không gian (giang san) vừa mang kích thước thời gian chiều dài lịch sử (kháp kỉ thu). Nó thể hiện tư thế người chiến sĩ thuở “bình Nguyên” ra trận hiên ngang, hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại. Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện qua một vần thơ cổ kính trang nghiêm: cầm ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc suốt mấy mùa thu để bảo vệ giang sơn yêu quý.

Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ báo “tỳ hổ” quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. “Khí thôn Ngưu” nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mơ sao Ngưu trên bầu trời. Hoặc có thể hiểu: ba quân thế mạnh nuốt trôi trâu. Biện pháp tu từ thậm xưng sáng tạo nên một hình tượng thơ mang tầm vóc hoàng tráng, vũ trụ: “Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Tam quân tì hổ…” trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc đáo, không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân “sát thát” đánh đâu thắng đấy mà nó còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc:

“Thuyền bè muôn đội

Tinh kỳ phấp phới

Tỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng chói…”

(Bạch Đằng giang phú)

Người chiến sĩ “bình Nguyên” mang theo một ước mơ cháy bỏng: khao khát lập chiến công đê đền ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng! “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Trần Quốc Toản) – “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” (Trần Thủ Độ). “…Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng” (Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ những tấm lòng trung quân ái quốc của tướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời Trần trong xu thế đi lên gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại. Họ mơ ước và tự hào về những chiến tích hiển hách, về những võ công oanh liệt của mình có thể sánh ngang tầm sự nghiệp anh hùng của Vũ Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối sử dụng một điển tích (Vũ Hầu) để nói về nợ công danh của nam nhi thời loạn lạc, giặc giã:

“Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”.

“Công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh được làm nên bằng máu và tài thao lược, được tinh thần quả cảm và chiến công. Đó không phải là thứ “công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dũng cảm. Không chỉ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”, mà tướng sĩ còn học tập binh thư, rèn luyện cung tên chiến mã, sẵn sàng chiến đấu “Khiến cho người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai,…” để Tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững: “Non sông nghìn thuở vững âu vàng” (Trần Nhân Tông).

“Thuật hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng tráng, mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng kì vỹ, tráng lệ, giọng thơ hào hùng, trang nghiêm, mang phong vu anh hùng ca. Nó mãi là khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời Trần, sáng ngời “hào khí Đông A”.

Bài tham khảo số 1

Bạn có biết được rằng, trong mỗi trang văn đều được phủ bóng bởi thời đại mà nó ra đời. Trong văn học và hiện thực cuộc sống luôn có mối quan hệ gắn bó bền chặt. Có thể cảm nhận thấy được đối với bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão được phỏng đoán ra đời năm 1284. Đó cũng là khi cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên lần thứ hai sắp bắt đầu. Thông qua đây ta cũng thấy được nhưng dư vị âm vang hào khí Đông A toát ra từng câu chữ với bài thơ Thuật hoài của tác giả Phạm Ngũ Lão.

Đầu tiên ta phải hiểu được Đông A có nghĩa là gì? Đó chính là triết tự của chữ Trần trong tiếng Hán gồm bộ A và chữ Đông. Còn với hào khí Đông A là khí thế chiến đấu hào hùng của đời Trần và đồng thời cũng là của dân tộc ta từ thế kỉ X đến thế kỉ XV dựa trên sức mạnh tinh thần tự lập, sự tự cường, của ý chí quyết chiến, quyết thắng chống mọi kẻ thù xâm lược. Ta có thể nhận thấy được với hào khí Đông A là sản phẩm tinh thần kì vĩ của thời đại hào hùng. Tất cả dường như cứ âm vang của hào khí Đông A phần nào được tái hiện qua bài thơ đặc sắc “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão với vẻ đẹp hùng dũng, cao cả và khát vọng lập công của người tráng sĩ.

Trước hết, chúng ta có thể cảm nhận thấy được hào khí Đông A toát ra từ sự biểu dương và ngợi ca vẻ đẹp sức mạnh của con người thời đại nhà Trần. Thông qua đây đó cũng chính là một thời đại hào hùng sẽ được làm nên bởi những con người hào hùng. Trong dòng cảm xúc của một vị tướng, ta thấy lắng lại bức chân dung kì vĩ của đấng nam nhi thời loạn. Thực sự chính với ức chân dung ấy được khắc họa qua vẻ đẹp tư thế giữa không gian rộng lớn và kỹ vĩ biết bao nhiêu.

“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”

Chỉ với câu thơ đầu tiên thôi ta đã có thể cảm nhận được câu thơ hướng tới vẻ đẹp người tráng sĩ cầm ngang ngọn giáo trấn giữa đất nước đã chẵn mấy thu. Trong bản dịch thơ, chữ “hoành sóc” mà tác giả sử dụng khi được dịch là “múa giáo”- tư thế động, biểu diễn, đó thể hiện một sự phô trương có chút gì đó như ngang tàn. Cho dù có dịch như thế phần nào mất đi sự chắc chắn trong khi phiên âm thì “hoành sóc” được dịch “cần ngang ngọn giáo”. Sử dụng hình ảnh cầm ngang ngọn giáo cũng đã thể hiện được một tư thế tĩnh, dáng đứng hiên ngang, lẫm liệt, tâm thế sẵn sàng chiến đấu. Đây quả thực chính là một tư thế chủ động nghênh đón mọi thử thách của cuộc chiến. Hai chữ “hoành sóc” làm hiện lên bức chân dung sừng sững của người lính sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Thông qua đây ta có thể cảm nhận thấy được chính với vẻ đẹp của tư thế ấy được đặt trong không gian rộng lớn “giang sơn”. Chính trong thời gian dài, sâu, vô tận “kháp kỉ thu”. Người đọc có thể cảm nhận thấy được với hình ảnh thơ mang tính ước lệ, thế rồi với đó chính là một không gian đậm tô tầm vóc lớn lao, hùng vĩ của người tráng sĩ; thời gian nhấn mạnh sự dẻo da, kiên định, bền bỉ, tận trung báo quốc của người chiến binh nhà Trần. Có như vậy bằng âm điệu chắc khỏe hào hùng, bút pháp đậm tính sử thi, tác giả Phạm Ngũ Lão cũng đã tái hiện vẻ đẹp của tráng sĩ nhà Trần.

Khí thế hào hùng của thời đại mang tinh thần quyết chiến, quyết thắng và vô cùng đặc sắc thông qua câu thơ:

“Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

Người đọc có thể dễ dàng nhận thấy được nếu như ở câu thơ thứ nhất miêu tả vẻ đẹp cá nhân anh hùng thì đến đây là cả vẻ đẹp của đoàn quân anh hùng. Thêm với đó chính là một hình ảnh thơ được mở rộng. “Tam quân” là tiền quân, trung quân, hậu quân – cách nói ước lệ cho quân đội nhà Trần. Tác giả Phạm Ngũ Lão cũng đã thật khéo léo vì đã chọn được phép so sánh ngầm “tam quân tì hổ” nghĩa là sức mạnh của quân đội nhà Trần cũng dũng mãnh như hổ báo. Với biện pháp ẩn dụ đã nói lên cái mạnh mẽ, hùng cường – sức mạnh phi thường của cả đoàn quân. Nửa còn lại trong câu thơ, tất cả dường như cũng đã nghiêng về khái quát khí thế xung trận, chiến đấu của quân đội nhà Trần. Người đọc cũng có thể nhận thấy được có hai cách hiểu về “khí thôn ngưu”. Và sức mạnh đó có thể là khí thế nuốt trôi trâu – Thực sự đây cũng chính là một biểu tượng mang tính ước lệ để nói về những người trẻ tuổi có khí phách anh hùng của quân đội nhà Trần. Không chỉ dừng lại ở đó thì, ngưu cũng lại còn là tên gọi của một vì sao trên trời. Cũng chính với nghĩa này thì câu thơ lại mang hàm ý là hào khí bốc lên át cả sao ngưu. Cũng với cả hai cách hiểu đều không mâu thuẫn, thế rồi cũng cùng hướng tới mục đích làm bật lên sức mạnh kì vĩ, khí thế hào hùng của quân đội nhà Trần khi xung trận. Tất cả những điều đó đã lí giải tại sao trước một thế lực ngoại xâm hung tàn như giặc Nguyên Mông mà một dân tộc nhỏ bé, khiêm tốn lại có đủ sức mạnh để đối đầu và chiến thắng. Và ta cũng hiểu được rằng phải chăng đó là sức mạnh cộng hưởng của tinh thần đoàn kết trong hào khí Đông A.

Nhắc đến hào khí Đông A không chỉ thể hiện ở tinh thần sục sôi khi ra trận mà nhiều khi còn được thể hiện kín đáo và sâu sắc trong những suy tư của con người. Thêm với đó cũng chính là thông qua khát vọng lập công danh của con người thời loạn. Lập công báo đền nợ nước làm bật lên cái chí lớn lao và cái tâm cao cả của người tráng sĩ:

“Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”

Nói về chí là chí làm trai mang tinh thần và tư tưởng tích cực. Chính điều đó đã tạo đà cho người tráng sĩ, làm động lực ra trận lập công và chiến thắng. Thế rồi cũng chính còn cái tâm của người anh hùng lại hiện rõ qua nỗi thẹn Vũ Hầu. Như vậy, hào khí Đông A đó không chỉ thể hiện ở lòng yêu nước, căm thù giặc mà nó còn nằm trong tâm tư sâu kín của vị tướng tài ba.

Ta nhận thấy được với hào khí Đông A đã góp phần tọa nên một thời đại với những kì tích rực rỡ lưu danh trong sử sách. Có thể nhận thấy được rằng chính với hào khí không chỉ thể hiện trong lời thơ của một người mà còn là tinh thần của cả một thời khiến cho các thế hệ sau này luôn tự nhủ phải làm gì để xứng đáng với cha ông.

Tóm lại với bài thơ “Thuật hoài”, hào khí Đông A luôn sục sôi được toát ra nhờ thủ pháp gợi thiên về ấn tượng bao quát. Thêm với đó chính là một bút pháp hoành tráng, có tính sử thi với hình tượng thơ lớn lao, kì vĩ thật đẹp biết bao nhiêu.

Bài tham khảo số 5

Phạm Ngũ Lão sinh ra trên mảnh đất Hưng Yên giàu truyền thống văn hóa văn hiến nuôi dưỡng tâm hồn biết yêu học thức, yêu quê hương. Từ nhỏ, Phạm Ngũ Lão đã nổi tiếng cương trực, lớn lên một lòng trung quân ái quốc giúp vua Trần giữ yên bờ cõi. Một bậc tài danh, giỏi từ học thức tới tài võ, tài thao lược nhưng cả đời không nguôi nỗi hổ thẹn vì chưa góp công cho đất nước nhiều hơn nữa. Tâm tư đó, ai cũng thấy rõ trong bài thất ngôn tứ tuyệt “Tỏ lòng”:

“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu

Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu.

Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”

Bài thơ “Tỏ lòng” hay còn gọi là “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão đã phục dựng và làm nổi bật lên một thời đại huy hoàng đầy hào khí Đông A. Hào khí ấy hiện thực hóa trong khí phách và sức mạnh của đội quân triều Trần:

“Hoành sóc giang san cáp kỷ thu

Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu”

(“Múa giáo non sông trải mấy thu,

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”)

Trước mắt người đọc là đạo quân đang “hoành sóc” (múa giáo) luyện binh. Chiếc giáo sắt quen tay tới nhuần nhuyễn, thành nghệ thuật, chứa khí thế hiên ngang “đầu đội trời, chân đạp đất” của đội quân Sát Thát. Từ “hoành” kết hợp với “giang san” và “kỷ thu” như khiến tầm của đội quân trở nên thần thánh hóa, hóa thân của sức mạnh vĩnh cửu với thời gian và bao trùm mọi không gian.

Sẽ chẳng có một kẻ địch nào ngăn cản khí thế hổ dữ “nuốt trôi” một con trâu mộng lớn. Phạm Ngũ Lão đã ngầm so sánh tương quan lực lượng giữ quân ta và địch. Ta như loài chúa tể tuy không lớn nhất trong rừng xanh nhưng sức mạnh và nghệ thuật săn mồi có thừa. Còn trâu mộng kia ắt hẳn là quân giặc, tuy to xác nhưng kém sắc sảo, mưu trí. Phạm Ngũ Lão đang tuyên cáo với quân giặc: Đội quân các người có đông đảo tới đâu, vũ khí có tân tiến tới đâu thì cũng không địch lại được tam quân này.

Đến hai câu thơ sau, Phạm Ngũ Lão giãi bày tấm lòng:

“Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”

(“Công danh nam tử con vương nợ,

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”)

Từ “nam nhi” nhắc đến chí làm trai quen thuộc:

“Làm trai cho đáng nên trai

Một trăm đám cỗ chẳng sai đám nào

Ăn thì chọn những miếng ngon

Làm thì chọn việc cỏn con mà làm”

Nếu ca dao nhắc chí làm trai để châm biếm kẻ nam nhi lười nhác không làm nên trò chống gì thì Phạm Ngũ Lão mượn chuyện chí làm trai để bày tỏ nỗi thẹn. Tác giả thẹn vì hai chữ “công danh”. Thực tế lịch sử, Phạm Ngũ Lão lập nên nhiều chiến công và được lưu danh sử sách. Tuy vậy, nhà thơ không lấy đó làm tự cao mà ngược lại còn không chịu thỏa mãn với nghiệp công danh của bản thân. Tác giả nhắc đến Vũ Hầu hay Gia Cát Lượng – một nhà chính trị, quân sự kiệt xuất giúp Lưu Bị lập nên nhà Thục Hán, Trung Quốc. Phạm Ngũ Lão hổ thẹn cho rằng bản thân chưa phục vụ nhà Trần được như Vũ Hầu giúp vua Thục. Nỗi thẹn này càng chứng tỏ tài và tâm của Phạm Ngũ Lão.

Bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đậm chất sử thi, có nhiều sáng tạo ngôn từ, giọng thơ linh hoạt khi hào sảng khi tự vấn. Bên cạnh giá trị nghệ thuật, bài thơ còn mang giá trị lịch sử khi ghi lại đậm hào khí Đông A một triều đại hùng mạnh của dân tộc Việt Nam. Qua bài thơ, ta thấy được phong cách, tài năng và nhân cách Phạm Ngũ Lão.

Bài tham khảo số 2

Trong lịch sử nước nhà, thời đại nhà Trần là một trong những thời đại lịch sử phát triển nhất. Không thể phủ nhận những thành tựu mà quân dân nhà Trần làm cho đất nước trên tất cả các lĩnh vực văn hóa, chính trị, quân sự, kinh tế hay tôn giáo…Nhắc đến nhà Trần là nhắc đến hào khí Đông A. Đặc biệt hào khí ấy không chỉ được nhắc đến trong lịch sử mà nó còn được nhắc đến qua bài thơ Tỏ lòng của vị tướng quân tài ba Phạm Ngũ Lão. Đồng thời qua bài thơ này, nhà thơ cũng muốn thể hiện nỗi “thẹn” của mình.

Vậy hào khí Đông A là gì?. Thông thường người ta hay biết đến hào khí Đông A nhưng lại chưa thực sự hiểu ý nghĩa của nó. Hào khí Đông A có hai cách hiểu. Cách hiểu thứ nhất là đây là triết tự của nhà Trần, chữ Đông và chữ A ghép lại để chỉ thời đại nhà Trần. Tuy nhiên nó còn một ý nghĩa sâu xa hơn, như chúng ta đã biết nhà Trần là một thời đại hợp lòng nhất từ trên xuống dưới, từ quân đến dân, từ nhà vua đến dân chúng. Hào khí Đông A thể hiện rõ ý chí trăm lòng như một của vua dân nhà Trần. Với ý chí quyết tâm không khuất phục, họ đồng lòng đồng thuận với nhau trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Và họ đã làm nên chiến thắng ba lần với giặc Nguyên Mông.

Bài thơ Thuật hoài thể hiện rõ hào khí Đông A thời Trần. Hai câu thơ đầu là tiêu biểu cho sự thể hiện đó:

“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”

“Múa giáo non sông trải mấy thu

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”

“Hoành sóc giang sơn” có nghĩa là cầm ngang ngọn giáo để trấn giữ đất nước. Thời nhà Trần phải chống lại kẻ thù nguy hiểm nhất, mạnh nhất thời bấy giờ. Giặc Nguyên Mông bấy giờ hung hãn và dã man nhất, vó ngựa của chúng đi tới thảo nguyên nào thì thảo nguyên đó không còn một ngọn cỏ. Sức càn quét và xâm chiếm của chúng khiến cho nhiều nước khác phải kinh sợ. Thế nhưng đất nước ta phải đối mặt với những tên giặc nguy hiểm này thì quân dân nhà Trần không hề sợ sệt. Trên dưới một lòng bảo vệ đất nước giang sơn. Ngọn giáo giống như quốc bảo của người quân tử thời Trần, nó được đo bởi chiều rộng và chiều cao của đất nước. Sứ mệnh của quân dân nhà Trần là bảo vệ đất nước, từ bấy lâu nay vẫn thế há gì gặp giặc ngoại xâm nguy hiểm nhất lại phải chùn bước.

Câu thơ thể hiện ý chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước và người quân tử thời Trần tự ý thức được trách nhiệm của mình với đất nước. Chính bởi đồng lòng cho nên ba quân của nhà Trần mạnh mẽ như hổ báo, khí thế át cả sao Ngưu trên trời. Khí thế ấy tưởng chừng có thể nuốt hết một con trâu lớn. Hai câu thơ thể hiện sự hào hùng, bất khuất của quân đội nhà Trần. Đó chính là sự thể hiện của hào khí Đông A.

Nếu hai câu thơ đầu, nhà thơ thể hiện hào khí Đông A của một thời đại đầy hào hùng thì đến hai câu thơ cuối nhà thơ bày tỏ nỗi “thẹn” của mình:

“Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”

“Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”

Xưa kia, sinh thời phận làm trai thì phải có công danh và sự nghiệp. Một người nam nhi chân chính là phải có danh với núi sông, có công với đất nước. Chỉ có như thế mới xứng đáng là phận nam tri đầu đội trời chân đạp đất. Cái nợ công danh của nhà thơ vẫn còn trong khi ông đã từng đánh nam dẹp bắc, chặn biết bao nhiêu con đường của giặc đi. Phạm Ngũ Lão – một vị tướng tài ba của nhà Trần thế nhưng ông vẫn khiêm tốn về công danh của mình với vua, với nước. Ông “thẹn” khi nghe chuyện Vũ Hầu bởi vì Vũ Hầu cũng là phận bề tôi như ông. Nhưng Vũ Hầu làm được nhiều việc có công lớn với đất nước với vua hơn. Chính vì thế mà dù Phạm Ngũ Lão tài giỏi và hết lòng vì đất nước nhưng bản thân nhà thơ vẫn không cảm thấy hài lòng với những gì mình đã làm. Theo nhà thơ, có lẽ bấy nhiêu thôi chưa đủ để gọi là công danh với đất nước.

Qua đây ta có thể thấy rõ được hào khí Đông A thời nhà Trần và nỗi thẹn của người quân tử, người tướng quân hết lòng ra sinh vào tử vì vua vì nước. Có thể nói hào khí Đông A là yếu tố cơ bản làm nên ba lần chiến thắng giặc nguyên Mông. Đồng thời ta có thể thấy được tấm lòng của vị tướng quân tài ba với đất nước mình. Dẫu có bao nhiêu chiến công hiển hách, Phạm ngũ Lão vẫn thấy chưa đủ để phục vụ cho vua và cho đất nước.

Bài Viết Bạn Nên Xem

Back to top button