Banner Đặt Hàng Bánh Trung Thu Tiệm Ăn Bà Zú
Danh Sách Dịch Vụ

Top 13 Loài động vật có túi đáng yêu nhất hành tinh

Thú có túi đại diện cho nhánh có nguồn gốc từ tổ tiên chung gần nhất của các loài phân lớp Metatheria còn tồn tại. Giống như các loài động vật có vú khác trong Metatheria, chúng sinh ra những con non tương đối chưa phát triển thường trú ngụ trong một cái túi nằm trên bụng mẹ trong một khoảng thời gian nhất định. Dưới đây là 13 loài động vật có túi đáng yêu nhất hành tinh mà Toplist muốn giới thiệu đến các bạn, cùng theo dõi nhé!

Quoll

Quoll hoặc Cầy túi hay mèo túi là loài thú có túi ăn thịt bản địa sống tại Úc. Với thân hình săn chắc và cái đuôi dài, Quoll giống như một con lai giữa Quỷ Tasmania và mèo. Bộ lông màu nâu sẫm đốm trắng và chiếc mũi hồng xinh xắn khiến nó trông giống như nhân vật phim hoạt hình. Mèo túi là kẻ săn mồi đơn độc về đêm, thức ăn gồm các loài côn trùng, bò sát, động vật có vú nhỏ. Bốn loài quoll đặc hữu Úc: quoll tây, quoll đông, quoll đuôi đốm và quoll phía bắc. Mùa sinh sản vào đầu mùa đông, chúng có thể sinh tới 20 con một lần. Quoll cư trú từ bờ biển phía đông Australia hay đảo Tasmania. Rất ít cơ hội để bạn nhìn thấy chúng trong môi trường hoang dã bên ngoài công viên tự nhiên chuyên dụng.

Mèo túi là loài bản địa của lục địa Úc, New Guinea, và Tasmania. Sáu loài đã từng phân bố rộng rãi trên các vùng đất, nhưng bây giờ bị giới hạn chỉ ở một vài khu vực. Mặc dù chủ yếu sống ở mặt đất, chi này đã phát triển các đặc tính sống trên cây. Mỗi loài mèo túi sống tại các khu vực địa lý khác nhau. Các loài Mèo túi hổ và Mèo túi phía đông chỉ sống trong môi trường ẩm ướt. Loài Mèo túi phía Tây cũng sống ở môi trường ẩm ướt, nhưng đã thích nghi với vùng khô hạn trong nội địa Úc, trong khi loài Mèo túi phía Bắc sống ở môi trường nhiệt đới có lượng mưa lớn.

Mèo túi là thú có túi ăn thịt. Nó chủ yếu hoạt động vào ban đêm, ngủ trong các khúc gỗ rỗng hoặc các hang đá vào ban ngày và ra ngoài để đi săn vào ban đêm, mặc dù trong những dịp hiếm hoi nó cũng tìm kiếm con mồi vào ban ngày. Nó chủ yếu là sống mặt đất ở, nhưng không khó nhìn thấy một con đang leo lên trên cây. Mèo túi đánh dấu một số cây số lãnh thổ từ hang của nó. Lãnh thổ của con đực thường chồng chéo lên nhiều vùng lãnh thổ của con cái và các con đực và cái chi gặp nhau khi giao phối. Chúng có các khu vực vệ sinh chung, thường là trên một bãi đất lồi được sử dụng để đánh dấu lãnh thổ và các chức năng xã hội. Chúng là sinh vật sống đơn độc, ít tiếp xúc với cá thể khác.

Mèo túi chủ yếu ăn thịt; các loài nhỏ hơn chủ yếu ăn côn trùng, chim, ếch nhái, thằn lằn và trái cây, các loài lớn hơn ăn thịt chim, bò sát, và các động vật có vú, bao gồm cả thú lông nhím và thú có túi. Chế độ ăn uống của Mèo túi hổ chủ yếu là động vật có vú như thú có túi, thỏ và thỏ rừng. Thức ăn có thể thay đổi tùy thuộc vào sự sẵn có của con mồi như sau khi cháy rừng, có thể bao gồm xác thối. Chúng săn mồi bằng cách rình mồi. Tùy thuộc vào kích thước của con mồi, mèo túi có thể nhảy hoặc vồ xuống con mồi. Với con mồi nhỏ chúng giữ trong bàn chân bằng móng vuốt, còn con mồi lớn hơn chúng nhảy lên, giữ chặt con mồi bằng móng vuốt và cắn vào cổ. Mèo túi có thể lấy lượng nước cần thiết từ thức ăn, giúp nó khá thích nghi trong thời gian hạn hán hoặc thiếu nước.

Kangaroo

Kangaroo là biểu tượng của Úc, điều mà bất kỳ ai cũng luôn nghĩ tới khi nhắc về quốc gia này. Chuột túi bản địa thuộc nhóm loài thú túi chân to lớn. Chuột túi màu đỏ, cao và khỏe mạnh là loài thú có túi lớn nhất và động vật có vú lớn nhất ở Úc. Ngoài ra còn có kangaroo xám kích thước nhỏ hơn sinh sống phía đông Úc và trên đảo Kangaroo. Chuột túi đực thường rất hung dữ với nhau, tuy chiến đấu để giành bạn tình nhưng lại khá nhút nhát khi gặp con người. Chúng có đôi chân cực khỏe và tung cú đá mang lực khỏe như võ sĩ chuyên nghiệp. Bạn sẽ tìm thấy chuột túi trong hầu khắp các khu bảo tồn động vật hoang dã và vườn thú của Úc. Tuy nhiên việc bắt gặp kangaroo đi lang thang giữa môi trường tự nhiên sẽ gây thích thú hơn nhiều. Kangaroo sống hoang dã hoạt động mạnh mẽ vào lúc hoàng hôn, chúng xuất hiện nhiều quanh bãi biển, dọc con đường ngoại ô các thành phố lớn.

Kangaroo có đôi chân sau mạnh mẽ, cái đuôi dài, chắc khỏe cùng phần chân trước nhỏ hơn. Chúng thuộc chi Macropus, dịch ra có nghĩa là “chân to”. Nhờ đôi bàn chân có kích thước khủng này mà Kangaroo có thể nhảy tới khoảng cách 9 mét chỉ với 1 lần bật chân và di chuyển với vận tốc 48km/giờ. Cái đuôi của loài này hỗ trợ việc cân bằng cơ thể khi nhảy. Chúng cũng là loài có chiều cao lớn nhất trong những loài có túi với chiều cao hơn 2 mét.

Vì là động vật ăn cỏ nên chuột túi phát triển cho mình một bộ hàm riêng biệt. Răng cửa của nó có thể nhai cỏ gần mặt đất, còn răng hàm làm nhiệm vụ cắt và nghiền cỏ làm nhiều mảnh. Chất hóa học có tên “điôxít silic” trong cỏ có khả năng mài mòn nên sau một thời gian, hàm răng của Kangaroo sẽ dần dần rụng ra và được thay thế bởi những cái răng mới mọc. Quá trình thay răng này được gọi là “polyphyodonty” và chỉ xuất hiện trong các loài động vật có vú như voi biển và lợn biển.

Kangaroo chủ yếu phát triển ở miền Đông nước Úc. Loài này sống theo bầy đàn khoảng từ 50 cá thể trở lên. Nếu bị đe dọa, Kangaroo sẽ dậm mạnh chân mình xuống đất để cảnh báo đối phương. Chúng chiến đấu với kẻ thù bằng cách đá và đôi khi còn cắn vào người đối thủ. Bên cạnh con người và những chú chó dingo, chuột túi còn có một vài kẻ thù đến từ tự nhiên như nhiệt độ nóng bức, hạn hán, khan hiếm thức ăn, hay môi trường sống biến mất.

Kangaroo có thói quen dành cả ngày để nghỉ ngơi trong những bóng râm, chỉ đến đêm và sáng sớm chúng mới di chuyển và kiếm ăn.

Opossum

Opossum là một loài thú có túi thuộc Họ Didelphidae trong Bộ Didelphimorphia đặc hữu ở châu Mỹ. Đây là bộ thú có túi lớn nhất ở Tây Bán cầu, nó bao gồm 103 loài trở lên trong 19 chi. Opossum có nguồn gốc từ Nam Mỹ vào Bắc Mỹ trong “Trao đổi lớn của Mỹ” sau sự kết nối của hai lục địa. Sinh học không chuyên biệt, chế độ ăn linh hoạt và thói quen sinh sản của chúng khiến chúng trở thành những loài sinh tồn thành công nhất ở nhiều địa điểm và điều kiện khác nhau.

Ở Hoa Kỳ và Canada, loài duy nhất được tìm thấy là opossum Virginia và nó thường được gọi đơn giản là “opossum” nhưng một số phương ngữ rút ngắn tên chúng thành “possum”, nhưng không nên nhầm lẫn chúng với phân bộ Phalangeriformes (là thú có túi sống trên cây ở Đông Bán cầu cũng được được gọi là “possum” vì chúng nhìn giống với các loài bộ này). Họ này được Gray miêu tả năm 1821.

Với vẻ ngoài đáng yêu, bộ lông mềm mại cùng đôi mắt đen tròn và cách tránh khỏi kẻ thù hết sức ranh ma khiến cho mình phải lòng loài động vật đáng yêu này. Vì thế mình muốn giới thiệu với mọi ng về loài chồn này. Điểm đặc biệt đáng chú ý của loài vật này là khi nói đến việc phòng thủ, loài vật này thực sự là các siêu thiên tài. Chồn Opossum thường phản ứng với hiểm nguy bằng cách giả vờ chết: Nó rơi xuống đất, sùi bọt mép cứ như thể bị bệnh nặng, sau đó nằm bất động với cái mõm há hốc và tiết ra chất lỏng màu xanh lá cây có mùi hôi từ các tuyến hậu môn. Điều kỳ lạ nhất về cơ chế bảo vệ của loài động vật này là phản ứng mang tính tâm lý, tiềm thức trước hiểm nguy hơn là phản ứng có ý thức. Vì các động vật ăn thịt thường thích giết con mồi hơn nên chúng không hứng thú với những con mồi trông có vẻ đã hôn mê và thường bỏ đi.

Ngoài ra một điểm đặc biệt của loài chồn này là cách chăm sóc con. Chồn mẹ thường cõng các chú chồn con trên lưng để di chuyển. Cũng giống như các loài động vật khác, chồn Opossum mẹ có “tình mẹ” rất ấm áp và nghị lực. Trước đây, ở bang North Carolina có một con chồn Opossum mẹ bị thương như vẫn kiên quyết chăm sóc cõng trên lưng 9 con chồn con được các tình nguyện viên phát hiện và cứu giúp.

Dunnart

Dunnart có bộ lông màu nâu nhạt đến xám với phần lông đậm hơn trên đầu và cổ. Phần dưới và bàn chân có màu nhạt hơn. Dunnart có hai tai tròn lớn. Một chiếc đuôi mỏng có chiều dài gần bằng chiều dài cơ thể của nó. Con đực nặng tới 40 gram; con cái lên đến 25 gam. Ban ngày nó ngủ trong tổ có mái che hoặc hang cạn. Dunnart có khả năng trở nên khó chịu, dẫn đến ngủ đông tạm thời khi nhiệt độ cơ thể giảm xuống dưới 15 độ C. Đây được cho là môi trường giúp chúng tồn tại trong những điều kiện không thuận lợi.

Dunnart là loài ăn côn trùng ăn đêm có chế độ ăn chủ yếu là bọ cánh cứng, ấu trùng dế, gián và nhện. Mùa sinh sản của Dunnart được ghi nhận từ tháng 8 / tháng 9 đến cuối tháng 3, trong thời gian đó những con đực có thể trở nên hung dữ. Con cái thu hút bạn tình bằng cách thực hiện một loạt tiếng kêu ‘chít chít’. Thời gian mang thai khoảng 12 ngày và con non có thể cai sữa sau 60 ngày. Con cái có thể đẻ hai lứa mỗi năm, sinh ra tối đa 20 con. Những con Dunnart non đạt kích thước trưởng thành đầy đủ sau 150 ngày và người ta tin rằng hầu hết các con đực chỉ có thể sống sót sau một mùa sinh sản trước khi chết.

Con non được sinh ra rất sớm so với các loài động vật có vú khác, như vậy thú có túi mẹ không cần phát triển hệ thống phức tạp nhau thai, màng ối, dạ con… để bảo vệ con non trong cơ thể mình. Thú có túi non thực sự rất nhỏ bé so với môi trường rộng lớn và nguy hiểm ngoài cơ thể mẹ, nhưng điều này lại làm giảm bớt nguy cơ khi thú có túi mẹ không cần phải mang thai dài ngày. Do con non phải leo lên chỗ núm vú của mẹ nó, nên chi trước của chúng được phát triển nhanh hơn các bộ phận khác trên cơ thể lúc mới sinh.

Cuscus

Cuscus đốm, hay Spilocuscus maculatus, là một loài thú có túi sống ở các vùng nhiệt đới phía bắc Australia và trên đảo Papua New Guinea. Cuscus là loài opossum lớn nhất thế giới, với các mẫu vật có kích thước từ 6 inch đến gần 2 feet chiều dài. Các loài động vật này bị săn bắt để lấy thịt ở Papua New Guinea, và các loài này đang bị đe dọa do nạn săn bắn và phá rừng.

Couscous là loài động vật có bộ lông xù và dày, có sắc độ từ vàng nhạt đến nâu dày. Con cái thường đơn điệu, con đực có thể phô trương những đốm và sọc. Đuôi của con vật có một cái dài, rất ngoan cường, hầu như luôn luôn xoắn ốc và nhất thiết phải trần đến một nửa. Phần không có lông được phủ vảy ngăn ngừa thương tích khi sử dụng đuôi như một chi thứ năm.

Các mẫu vật sừng trưởng thành đạt trọng lượng từ 3,5 đến 7,9 pound. Cuscus đốm dành toàn bộ cuộc sống của chúng trên mặt đất trong những khu rừng cây cối rậm rạp, ăn trái cây và hoa từ cây cối. Loài này sống về đêm và tìm kiếm thức ăn vào ban đêm nhờ đôi mắt rất lớn. Cuscus đốm sống trung bình 11 năm trong tự nhiên.

Mùa sinh sản diễn ra quanh năm ở vùng có khí hậu ấm áp. Con cái sinh tối đa hai con sau thời gian mang thai chỉ 13 ngày, và con cái dành vài tháng trong túi mẹ, phù hợp với tập tính điển hình của thú có túi. Cuscus đốm đạt độ tuổi trưởng thành về mặt sinh dục trong khoảng 8 tháng.

Các nhà khoa học lần đầu tiên tin rằng cuscus đốm là một con khỉ vì chúng di chuyển qua cây cối. Loài cuscus đốm sau đó đã được phân loại lại vì vòng đời của nó tương tự như vòng đời của opossum.

Gấu túi mũi trần

Gấu túi mũi trần – Wombats là loài thú có túi mập mạp trông giống gấu con. Nhờ sở hữu bộ lông dày mà chúng thoải mái duy trì mọi hoạt động suốt mùa đông dài. Hai chi trước khỏe mạnh giúp nó dễ dàng đào bới tìm mọi thứ bị chôn vùi dưới lớp tuyết dày. Thức ăn chủ yếu của Wombats là cỏ và các loại thực vật.Vì bản tính ngủ ngày đêm mới đi kiếm ăn nên ngay cả người dân bản địa cũng ít cơ hội thấy chúng. Tuy dáng vẻ béo lùn, có phần chậm chạp khi đi bộ nhưng chúng lại chạy cực nhanh để bảo vệ lãnh thổ khi bị tấn công. Vùng núi Cradle ở Tasmania, Blue Mountains ngoại ô Sydney hoặc tại các công viên vườn thú hoang dã của Úc là nơi du khách có cơ hội gặp gỡ loài vật này.

Gấu túi mũi trần là loài thú có túi, bốn chân ngắn, cơ bắp, có nguồn gốc từ Úc. Chúng có chiều dài khoảng 80 cm với đuôi nhỏ, mập mạp và nặng từ 20 đến 35kg. Chân của chúng có móng vuốt cứng, thuận lợi cho việc đào bới chính vì vậy nên loài gấu này sống chủ yếu ở dưới lòng đất. Với cấu tạo đặc biệt của cơ thể, những chú gấu mẹ có thể mang con non của mình trong các túi ở phía mông và gấu con có thể ở trong túi mẹ cho đến khi chúng được khoảng 8 tháng tuổi.

Gấu túi mũi trần có nguồn gốc từ đồng bằng cỏ và rừng bạch đàn Australia, là một trong những loài động vật đáng yêu nhất thế giới. Đối với các chuyên gia động vật, loài gấu túi mũi trần là một bí ẩn không có lời giải đáp trong một thời gian dài. Tất cả đều do chất thải kỳ lạ của chúng. Những con gấu túi mũi trần có khả năng độc đáo là tạo ra tới 100 mảnh phân hình khối đặc biệt mỗi ngày. Giờ đây, các nhà nghiên cứu cho biết họ đã khám phá ra cách loài động vật này tạo ra những viên phân có hình dạng bất thường.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, các vùng ruột mềm hơn sẽ co bóp từ từ và tạo thành các góc cuối cùng của khối lập phương. Điều thú vị là ở hầu hết các loài động vật có vú, sự co bóp của các cơ ruột xảy ra theo mọi hướng, nhưng ở những con gấu túi mũi trần các mô có rãnh và những cơn co thắt không đều tạo hình dạng phân khác nhau.

Chó sói Tasmania

Chó sói Tasmania, hay còn gọi là hổ Tasmania, chó sói túi (tên khoa học: Thylacinus cynocephalus) là một loài thú ăn thịt có túi, bề ngoài giống như chó hoặc chó sói, với những sọc vằn trên lưng giống như loài hổ với hình dạng đầu chó mình hổ. Sinh vật này xuất hiện đầu tiên ở Úc và Papua New Guinea, nhưng khoảng 2.000-200 năm trước, chúng biến mất trên đại lục Australia, và chỉ còn tìm thấy ở đảo Tasmania, miền nam Úc. Đây là loài thú có cú ngoạm mạnh gấp ba lần một con chó với cân nặng tương đương, những con vật nhỏ hơn lại có cú cắn mạnh hơn con lớn.Chó sói Tasmania được người dân bản địa gọi là “chó sói lai hổ” bởi ngoại hình giống chó sói nhưng trên cơ thể có các sọc vằn giống như hổ.

Nếu như bạn ngạc nhiên trước ngoại hình của nó một thì sẽ phải khiếp sợ khả năng săn mồi đến mười. Những người dân sống trong khu vực đó ví loài này là “cơn ác mộng”, “ác quỷ”… bởi chúng tấn công gia súc, gia cầm của họ.

Chó sói Tasmania bị săn bắn gần như tuyệt chủng trong hàng trăm năm sau khi người châu Âu đến định cư trên hòn đảo ở nam lục địa Úc. Ban đầu họ chưa biết và sợ loài thú này, mặc dù chúng sống ẩn dật trong tự nhiên và muốn tránh con người. Vào thập niên 1800, các nông dân buộc tội chó sói có túi là tấn công cừu. Vì thế, họ đã dùng đến súng săn, thuốc độc, hơi ngạt và bẫy để tiêu diệt chúng. Ý muốn của con người được toại nguyện, loài này đã biến mất chỉ trong vòng 70 năm.

Con chó sói Tasmania cuối cùng chết trong một vườn thú ở Tasmania vào năm 1936, mặc dù sau đó họ phát hiện thêm một số cá thể chó sói hoang dã. Các nhà khoa học Úc đang dự định tái tạo chó sói Tasmania đã bị tuyệt chủng từ gene trong xương và răng của chúng trong bảo tàng. Ngoài ra, các nhà khoa học cho rằng một phần nguyên nhân tuyệt chủng nằm ở sự đa dạng di truyền của chúng. “Sự đa dạng về di truyền của chó sói Tasmania rất thấp.

Koala

Koala là một loài gấu túi nhỏ sinh trưởng ở Úc, chúng ăn thực vật để phát triển. Cũng giống nhiều loài động vật có túi như kanguru, wombats, quỷ Tasmania, trước bụng Koala có chiếc túi nhỏ. Loài vật này dễ thương đến mức khiến bất kỳ ai cũng muốn tới gần âu yếm. Tuy nhiên gấu túi hơi khác biệt bởi nó không có đuôi và luôn đu bám sống trên các thân cây.Những con Koala mới sinh chưa có lông, mắt còn nhắm lập tức chui vào chiếc túi lộn ngược của Koala mẹ và ở trong đó từ 6 – 7 tháng. Gấu túi dành khá nhiều thời gian để ngủ trong cuộc đời để ngủ, trung bình từ 18 – 20 tiếng mỗi ngày.Các bang Queensland, New South Wales, Victoria và Nam Úc là khu vực tập trung số lượng cá thể Koala lớn nhất. Chẳng hạn khu bảo tồn Healesville – Melbourne rộng lớn thuộc bang Victoria rất được khách du lịch Úc yêu thích ghé thăm.

Gấu túi Koala là động vật có kích thước trung bình. Mõm bị xẹp, mắt nhỏ, dường như con vật hơi mù. Mũi tối cũng hơi dẹt, nhưng nó khá to và có da. Răng dùng để chế biến lá cứng rất chắc chắn, răng cửa được phân biệt đặc biệt bởi các cạnh sắc nhọn. Tai có hình tròn, cách nhau rất rộng, tương đối lớn, có lông dài ở rìa. Tất cả các chi đều thon dài, vì bạn phải liên tục di chuyển qua những cái cây. Do đó, bàn chải của bàn chân trên bao gồm một số bộ phận – để dễ di chuyển. Chân thấp hơn, và chúng không quá mạnh. Móng vuốt của một con gấu gỗ có một số lợi thế: dài và cong theo hình vòng cung. Nhờ những phẩm chất như vậy, rất thuận tiện để ở trên cành, và bạn có thể giữ trọng lượng lên tới 15 kg.

Điều mà các nhà khoa học khá ngạc nhiên lúc đó là dấu vân tay của con vật. Hóa ra trong tất cả các khía cạnh, nó tương ứng với dấu ấn của con người. Có một thực tế khác thường, và nó liên quan đến cấu trúc của các cơ quan sinh dục. Con cái có nhiều như hai âm đạo và hai tử cung. Theo đó, con đực có hai dương vật. Nhưng bộ não Koala có kích thước nhỏ đáng kinh ngạc so với tổng khối lượng – chỉ 0,02%. Có lẽ, tổ tiên của loài này có nhiều thông minh hơn, có khối lượng não lớn hơn, nhưng vì cuộc sống Koala không ngụ ý nhiều hoạt động của não, những thay đổi tiến hóa tương tự đã xảy ra. Tuy nhiên, sự đồng cảm này đối với anh không giảm.

Bộ lông của động vật ngắn và dày, rất dễ chịu khi chạm vào. Nhân tiện, phẩm chất này của cô đã dẫn đến việc động vật bị con người ồ ạt phá hủy vì sức hấp dẫn của lông thú. Màu của áo thường là màu xám khói, và trên bụng nhẹ hơn nhiều, một màu nâu cũng có thể xảy ra.

Quỷ Tasmania

Trong hệ động vật ở Úc thì quỷ Tasmania được xem là loài thú có túi ăn thịt lớn nhất thế giới. Loài động vật này có kích thước trung bình bằng con chó nhỏ và thường sinh sống ở các đảo ở Úc. Tasmania gây khiếp sợ cho không ít loài động vật bởi vẻ bề ngoài đen nhánh, đôi tai đỏ hỏn, bộ hàm rộng, hàm răng sắc nhọn cùng tiếng gầm cực lớn. Đặc biệt, chúng có một chiếc túi nhỏ ở bụng để mang theo con bên mình. Từng có mặt ở lục địa Úc, quỷ Tasmania giờ chỉ được tìm thấy trên đảo Tasmania, một số công viên động vật hoang dã nước Úc.

Quỷ Tasmania có cơ thể gọn gàng và chắc nịch với nhiều cơ bắp, lông đen, có mùi cay nồng, tiếng rít rất lớn và đáng sợ. Chúng là loài thú có khứu giác nhạy cảm và cũng loài săn mồi rất hung dữ. Chúng có cái đầu khá giống loài chuột, nhưng hàm răng sắc nhọn lại là của chó sói. Chân trước thường dài hơn so với chân sau. Bộ lông thường có màu đen với một mảng trắng bất thường trên ngực.

Con đực quỷ Tasmania thường lớn hơn con cái với chiều dài cơ thể khoảng 65 cm, đuôi dài chừng 25 cm và trọng lượng rung bình khoảng 8 kg. Quỷ Tasmania có một cái đầu lớn, khớp cổ linh hoạt cho phép chúng tạo ra những vết cắt chí mạng khi săn mồi.

Chúng ăn thịt bất kỳ loài động vật có vú nào mà chúng có thể săn đuổi và giết chết được, kể cả vật nuôi và gia súc. Loài này thường hoạt động đơn độc và thường xuất hiện vào ban ngày ở những thời điểm không quá nóng. Quỷ Tasmania nổi tiếng với sự hung dữ của mình cũng như là tốc độ và độ bền đáng ngạc nhiên khi đi săn. Chúng cũng có khả năng trèo cây và bơi lội rất tốt.

Những con cái có kích thước khoảng 57 cm chiều dài, đuôi chừng 24 cm và trọng lượng trung bình khoảng 6 kg. Quỷ Tasmania là loài đặc hữu của khu vực đảo Tasmania thuộc Úc. Thức ăn của chúng chủ yếu là thịt những loài động vật có vú nhỏ, bò sát, côn trùng… Đôi khi cũng có thể tấn công những loài vật lớn hay gia súc.

Quokkas

Một trong những loài động vật chỉ tìm thấy ở Australia đó là Quokkas. Quokkas được mệnh danh là loài động vật hạnh phúc nhất thế giới. Sở hữu đôi tai gấu bông và đôi mắt nai nhỏ xíu cùng khuôn miệng luôn cười tươi nên Quokkas rất được du khách yêu thích. Đảo Rottnest ở Tây Úc là địa danh du lịch Úc thu hút du khách khắp thế giới, nơi sở hữu nhiều bãi biển, vịnh tuyệt đẹp cùng loài vật đáng yêu này.Quokka thuộc nhóm thú có túi, họ Chân to và hoạt động về đêm, ban ngày tầm nhìn mắt kém.

Quokka đặc biệt thích giao tiếp với con người, khéo nịnh du khách bằng nụ cười tươi rói. Cuộc sống của chúng khá tự do và “hồn nhiên”, không bị đe dọa bởi động vật săn mồi tự nhiên. Quokka đã quen với con người và thường cố gắng lẻn vào nhà hàng, khu cắm trại để “xin” thức ăn. Chúng rất nhạy ống kính và cực kỳ thích selfie nên bạn chỉ cần giơ điện thoại lên bật chế độ chụp ảnh thì ngay lập tức Quokka sẽ lọt vào khung hình của bạn.

Quokka, tên khoa học Setonix brachyurus, là một loài động vật có vú trong họ Macropodidae, bộ Hai răng cửa. Loài này được Quoy & Gaimard mô tả năm 1830.

Giống như loài thú có túi khác trong họ macropodidae (như con chuột túi và kanguru chân to), quokka là động vật ăn cỏ và chủ yếu sinh hoạt về đêm. Quokka có thể được tìm thấy trên một số đảo nhỏ ngoài khơi bờ biển Tây Úc, đặc biệt ở đảo Rottnest ngay ngoài khơi Perth và đảo Bald gần Albany và chúng thường xuất hiện với vẻ mặt hạnh phúc. Một quần thể đại lục nhỏ tồn tại trong khu vực bảo vệ bảo tồn thiên nhiên Two People nơi chúng cùng tồn tại với potoroo Gilbert.

Kích thước của một chú Quokka trung bình từ 40 – 90 cm, trong khi chiếc đuôi của chúng dài khoảng 25 – 30 cm, cân nặng tầm 2,5 – 5 kg. Chúng rất thích leo trèo trên những cây nhỏ và cây bụi.

Numbat

Numbat (Myrmecobius fasciatus) là một loài thú có túi ăn côn trùng có nguồn gốc từ Tây Úc và gần đây đã được giới thiệu lại với các khu bảo tồn có hàng rào ở Nam Úc và New South Wales.

Numbat có vẻ ngoài nhìn giống như được lai giữa sóc chuột, và thú ăn kiến. Chúng dễ thương, hiền lành giống như Quokka, và thậm chí chúng còn không phổ biến trên các phương tiện truyền thông xã hội. Numbat chỉ được tìm thấy tại Úc. Không giống như các loài ăn kiến khổng lồ của Nam Mỹ, Numbat thực sự là thú có túi. Chúng đặc biệt khác thường bởi vì chúng là một trong hai loài thú có túi ở Úc chỉ hoạt động vào ban ngày. Mặc dù thuộc họ thú có túi, nhưng Numbat cái lại ko có túi.

Chúng được xếp vào loại động vật đặc biệt nguy cấp. Số lượng của chúng giảm đáng kể bởi mèo và động vật ăn thịt cũng như mất môi trường sống từ hoạt động nông nghiệp và cháy rừng. Hiện nay, chỉ còn khoảng 1000 cá thể còn sống trong tự nhiên. Nhằm nỗ lực bảo vệ Numbat và nâng cao nhận thức của người dân, chính phủ đã công nhận chúng thành biểu tượng chính thức của Tây Úc.

Tree Kangaroo

Tree Kangaroo là loài chuột túi sống trên cây, bản tính nhút nhát như một đứa trẻ. Chúng thường sống ở trên cây giữa rừng mưa nhiệt đới vùng Queensland, New Guinea góp phần làm hệ động vật ở Úc càng thêm phong phú. Loài vật này có túi ở bụng để mang con đi. Chúng còn có khả năng leo trèo cây giỏi hơn việc di chuyển dưới đất. Thức ăn chủ yếu của chúng là trái cây, vỏ, lá cây và các loại thực vật được tìm thấy quanh môi trường sống của chúng. Nhờ bộ móng vuốt sắc, khỏe giúp việc đeo bám vào thân cây dễ dàng hơn.

Chúng là loài chậm chạp và vụng về trên mặt đất nhưng thích nghi với việc leo trèo, ăn lá trên cây. Chuột túi cây có chân nhỏ nhưng bộ móng vuốt sắc và khỏe giúp cho việc bám vào cây. Chúng ăn được nhiều loại lá cây, trong đó có những loại lá có độc tố, có thể là một phần nguyên nhân dẫn tới việc khiến chúng trở lên chậm chạp (do hệ tiêu hóa đào thải của chuột túi cây khá chậm). Chúng di chuyển bằng cách nghiêng cơ thể về phía trước để cân bằng với cái đuôi nặng. Hai chi trước dùng để trượt và bám vào cây, còn hai chi sau nhảy để tiến về phía trước. Chuột túi cây có khả năng nhảy xuống đất từ độ cao 18 mét (59 ft) mà không hề bị tổn thương.

Lịch sử tiến hóa của chuột túi cây bắt đầu tại khu rừng nhiệt đới, Pademelon được coi như là tổ tiên tiến hóa của chuột túi cây. Chúng tiến hóa từ một loài thú có túi được coi là tổ tiên của loài chuột túi tại Úc và New Guinea. Trong thời kỳ Eocene muộn tại lục địa Úc – New Guinea, nước rút dần khỏi các khu rừng nhiệt đới khiến tổ tiên của chúng sống trong những khu vực khô cằn. Sau khi một số thế hệ đã thích nghi với môi trường mới, các Pademelons phát triển thành chuột túi chân to thích ứng với nguồn thức ăn là thảm thực vật và việc di chuyển tại vùng khô cằn. Sau đó, các con chuột túi di chuyển đến những vùng phong phú hơn bao gồm cả các vùng rừng nhiệt đới, và tại đây chúng dành nhiều thời gian để leo cây kiếm ăn.

Một loài đặc biệt sống ở các mỏm đá là loài chuột túi đá Proserpine. Trong thời gian cuối Miocen, loài chuột túi cây chân to tiến hóa từ chuột túi chân to hiện nay đã tuyệt chủng, đó là loài chuột túi chi Bohra. Thời kỳ băng hà, các khu rừng nhiệt ở Australia và New Guinea bị thu hẹp khiến các khu rừng bị cô lập, quần thể chuột túi thích ứng với khu vực còn lại và trở lên chậm chạp như loài chuột túi cây hiện nay.

Chuột túi wallaby

Một trong những con vật chỉ có ở Úc thì chuột túi Wallaby khiến người ta hay nhầm lẫn với Kangaroo. Ngoại hình cực giống nhưng có điểm khác biệt đó là chúng có kích thước bé hơn. Ở nước Úc hoang dã, loài động vật này thường cư trú ở địa hình gồ ghề, núi đá hay vùng đất hẻo lánh. Loài chuột túi Wallaby chỉ ăn cỏ nên rất hiền, có hai màu lông đặc trưng đó là trắng và xám tro. Có khoảng 30 loài Wallaby đang sinh sống rải rác trên khắp nước Úc hoang dã. Loài động vật này khiến người khác phải chú ý bởi sự đáng yêu, hiền lành, giỏi bơi lội và cực thích chạy nhảy. Nếu muốn chiêm ngưỡng hệ động vật ở Úc bạn có thể ghé thăm các khu bảo tồn hoang dã, vườn thú hay cánh đồng nho tại thung lũng Hunter. Thậm chí chúng còn có thể đi loanh quanh vườn và sân sau nhà người dân bản địa và di chuyển nhanh chóng khi bị phát hiện.

Chuột túi wallaby là loài chuột túi cỡ nhỏ có ngoại hình giống như Kangaroo nhưng có kích thước nhỏ hơn. Đây loài chuột túi giống như Kangaroo nhưng không được gọi là Kangaroo mà tách riêng thành loài chuộvà có kích cỡ nhỏ hơn một con Kangaroo thông thường. Wallaby có kích thước khá nhỏ, con lớn nhất cao khoảng 1.8 m tính từ đầu đến đuôi với cân nặng khoảng 30 kg. Kangaroo và wallaby có kích thước và trọng lượng rất khác nhau, dao động từ nửa kilôgram đến 90 kilôgram. Wallaby là loài bản địa của nước Úc, có mặt ở khắp nơi, đặc biệt là ở những vùng hẻo lánh, vùng núi đá và vùng có địa hình gồ ghề.

Chúng thực hiện việc giao tiếp với đồng loại bằng cách ra dấu bằng thị giác và khứu giác là phương thức giao tiếp phổ biến của loài Wallaby. Ngoài ra còn có ngôn ngữ hình thể, khi một con Wallaby cảm nhận thấy nguy hiểm, chúng sẽ đứng yên rồi làm động tác nhịp chân sau giống như đang đánh trống để cảnh báo những con khác trong bầy về mối đe dọa tiềm tàng. Việc nhịp chân còn kết hợp với tiếng rít khẽ và khịt mũi. Và nếu gặp nguy hiểm thực sự, chúng sẽ dùng chân làm vũ khí. Chúng có khả năng dùng hai chân sau để thực hiện những cú nhảy mạnh mẽ và việc chúng mang con theo trong chiếc túi ở trước bụng. Trên đất liền, chúng chỉ có thế di chuyển bằng cách phải sử dụng cả hai chân sau cùng một lúc nhưng khi bơi chúng có thể sử dụng mỗi bên chân một cách linh hoạt.

Chúng là loài thích ăn cây thuốc phiện, những con chuột túi chạy vòng quanh tại chỗ sau khi đánh chén cây anh túc trên cánh đồng tại Australia. Chuột túi cỡ nhỏ thường xuyên đột nhập vào những cánh đồng để ăn cây anh túc. Tác dụng của chất morphine trong cây anh túc khiến chúng bước loạng choạng, quay vòng tại chỗ hoặc chạy lung tung. Tình trạng chuột túi cỡ nhỏ xâm nhập các cánh đồng anh túc đã trở thành một vấn đề lớn. Sau khi ăn cây anh túc, chúng xoay vòng tại chỗ rồi ngã. Rất nhiều khoảng lõm hình tròn trên những cánh đồng cây thuốc phiện do chuột túi tạo nên. Điều đặc biệt là Wallaby không sinh ra loại khí methane trong ống tiêu hóa của chúng do sự có mặt của một nhóm vi khuẩn riêng biệt có mặt ở loài này. Khi nuôi trồng chúng trong môi trường dinh dưỡng thích hợp, vi khuẩn này sinh ra chất succinate thay vì methane là sản phẩm cuối cùng

Bài Viết Bạn Nên Xem

Back to top button